|
THÔNG
TƯ LIÊN TỊCH
Hướng dẫn áp dụng một số
quy định của
Bộ Luật dân sự trong việc giải
quyết các tranh chấp
liên quan đến quyền tác giả tại
Toà án nhân dân
***
Để áp dụng và thống nhất
các quy định của Bộ Luật
dân sự trong việc giải quyết
các tranh chấp liên quan đến quyền
tác giả tại Toà án nhân dân; Toà án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Bộ Văn hoá -Thông tin thống
nhất hướng dẫn một số
điểm như sau:
I.
Thẩm quyền của toà án nhân dân trong
việc giải quyết các tranh chấp
liên quan đến quyền tác giả.
1. Các tranh chấp liên quan đến quyền
tác giả thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án nhân dân.
Theo quy định tại Điều 759
Bộ luật dân sự (sau đây gọi
tắt là BLDS), Điều 33 Nghị định
số 76/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ
"H ướng dẫn thi hành một
số quy định về quyền tác
giả trong Bộ luật dân sự"
(sau đây gọi tắt là NĐ.76/CP)
và Điều 10 Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự
(sau đây gọi tắt là PLTTGQCVADS), Toà
án nhân dân có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp sau đây liên quan đến
quyền tác giả:
1.1. Các tranh chấp về quyền tác giả
đối với tác phẩm (tranh chấp
ai là người trực tiếp sáng tạo
toàn bộ hoặc một phần tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học...)
giữa:
a) Cá nhân với cá nhân; cá nhân với tổ
chức; tổ chức với tổ chức;
b) Các đồng tác giả với nhau;
một hoặc các đồng tác giả
với cá nhân, tổ chức khác;
1.2. Các tranh chấp về quyền tác giả
đối với phần mềm máy tính
giữa người cung cấp tài chính
hoặc các điều kiện vật
chất có tính quyết định cho việc
xây dựng, phát triển phần mềm
máy tính với người thiết kế,
xây dựng phần mềm máy tính.
1.3. Các tranh chấp về các quyền nhân
thân hoặc các quyền tài sản liên quan
đến quyền tác giả giữa:
a) Tác giả (đồng tác giả) không
đồng thời là chủ sở hữu
tác phẩm với chủ sở hữu
tác phẩm không đồng thời là tác
giả (theo quan hệ giao nhiệm vụ
hoặc theo hợp đồng sáng tạo
tác phẩm);
b) Tác giả (đồng tác giả) hoặc
chủ sở hữu tác phẩm với
người dịch, phóng tác, biên soạn,
cải biên, chuyển thể hoặc với
người sử dụng tác phẩm
dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên,
chuyển thể sáng tạo tác phẩm
mới;
c) Tác giả (đồng tác giả) hoặc
chủ sở hữu tác phẩm đã
công bố với người sưu tầm
tác phẩm đó để làm tuyển
tập, hợp tuyển;
d) Tác giả (đồng tác giả) hoặc
chủ sở hữu tác phẩm với
tổ chức điện ảnh, phát
thanh, truyền hình, sân khấu hoặc
các tổ chức biểu diễn các loại
hình nghệ thuật khác;
đ) Tác giả (đồng tác giả)
hoặc chủ sở hữu tác phẩm
với người sử dụng tác phẩm
đó để biểu diễn;
e) Tác giả (đồng tác giả) hoặc
chủ sở hữu tác phẩm với
tổ chức, cá nhân sản xuất băng
âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa
hình;
f) Tác giả đồng thời là chủ
sở hữu tác phẩm, chủ sở
hữu tác tác phẩm không đồng thời
là tác giả với tổ chức, cá nhân
sử dụng tác phẩm của họ
nhằm mục đích kinh doanh;
g) Tổ chức sản xuất băng
âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa
hình (có chương trình) với tổ
chức, cá nhân khác về việc nhân bản,
phát hành sản phẩm;
h) Tổ chức phát thanh, truyền hình
với tổ chức, cá nhân khác về
việc phát sóng chương trình hoặc
làm các bản sao chương trình;
i) Người biểu diễn với
cá nhân, tổ chức;
1.4. Các tranh chấp về hợp đồng
sử dụng tác phẩm hoặc tranh
chấp về hợp đồng dịch
vụ bản quyền tác giả.
1.5. Các tranh chấp về thừa kế
quyền tác giả.
1.6. Các tranh chấp khác liên quan đến
quyền tác giả.
2. Về thẩm quyền của Toà án
nhân dân giải quyết các tranh chấp
có liên quan đến quyền tác giả
theo thủ tục sơ thẩm.
Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả
đã hết hiệu lực kể từ
ngày 1- 7- 1996 (ngày BLDS có hiệu lực).
BLDS không quy định về thẩm quyền
của Toà án nhân dân các cấp trong việc
giải quyết các tranh chấp liên quan
đến quyền tác giả; do đó,
việc xác định thẩm quyền
của Toà án nhân dân giải quyết các
tranh chấp liên quan đến quyền
tác giả theo thủ tục sơ thẩm
phải căn cứ vào PLTTGQCVADS. Tuy nhiên,
các tranh chấp liên quan đến quyền
tác giả là những loại việc rất
phức tạp. Vì vậy, ngoài các vụ
án về các tranh chấp liên quan đến
quyền tác giả thuộc trường
hợp quy định tại điểm
a khoản 2 Điều 11 PLTTGQCVADS, đối
với các vụ án khác về tranh chấp
liên quan đến quyền tác giả,
thì Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương căn cứ vào
điểm c khoản 2 Điều 11 PLTTGQCVADS
lấy lên để giải quyết theo
thủ tục sơ thẩm.
II. Quyền khởi kiện, khởi
tố vụ án về tranh chấp liên
quan đến quyền tác giả.
1. Quyền khởi kiện vụ án về
tranh chấp liên quan đến quyền
tác giả.
Theo quy định của BLDS thì những
cá nhân, tổ chức sau đây có quyền
khởi kiện vụ án tại Toà án nhân
dân có thẩm quyền để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp liên
quan đến quyền tác giả:
a. Tác giả;
b. Chủ sở hữu tác phẩm;
c. Người thừa kế hợp pháp
của tác giả hoặc của chủ
sở hữu tác phẩm;
d. Cá nhân, tổ chức được
chuyển giao quyền của chủ sở
hữu tác phẩm;
e. Cá nhân, tổ chức sử dụng
tác phẩm theo hợp đồng;
f. Người biểu diễn;
g. Nhà xuất bản, tổ chức sản
xuất bằng âm thanh, đĩa âm thanh,
băng hình, đĩa hình;
h. Tổ chức phát thanh, truyền hình;
i. Cá nhân và tổ chức khác theo quy định
của pháp luật.
2. Quyền khởi tố vụ án về
tranh chấp liên quan đến quyền
tác giả.
Đối với các vi phạm quyền
tác giả đã thuộc Nhà nước
thì Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi tắt là Viện kiểm
sát cấp tỉnh) có quyền khởi
tố vụ án.
Cục Bản quyền tác giả (Bộ
Văn hoá - Thông tin), Sở Văn hoá - Thông
tin tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương khi phát hiện các vi phạm
quyền tác giả đã thuộc Nhà nước
thì phải đề nghị với Viện
kiểm sát cấp tỉnh xem xét việc
khởi tố vụ án nhằm bảo
vệ lợi ích của Nhà nước.
3. Điều kiện khởi kiện,
khởi tố vụ án về tranh chấp
liên quan đến quyền tác giả.
3.1- Theo quy định tại Điều
754 BLDS quyền tác giả phát sinh kể
từ thời điểm tác phẩm được
sáng tạo dưới hình thức nhất
định (không phân biệt tác phẩm
đã được công bố hay chưa
công bố, đã đăng ký hay chưa
đăng ký, không phân biệt ngôn ngữ
thể hiện, chất lượng của
tác phẩm...); do đó, khi có tranh chấp
liên quan đến quyền tác giả mà
đương sự khởi kiện
yêu cầu Toà án bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của họ, thì
Toà án không phân biệt việc họ đã
có giấy chứng nhân bản quyền
tác giả hay chưa, họ đã nộp
đơn hay chưa nộp đơn
đăng ký bảo hộ quyền tác
giả, quyền sở hữu tác phẩm.
3.2- Các quyền của tác giả, các quyền
của chủ sở hữu tác phẩm
không đồng thời là tác giả, quyền
của tổ chức sản xuất băng
âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa
hình, quyền của tổ chức phát
thanh, truyền hình được bảo
hộ trong thời hạn theo quy định
tại Điều 766 BLDS. Quá thời hạn
bảo hộ, các chủ thể nói trên
không còn được Nhà nước và
pháp luật bảo hộ, trừ các quyền
nhân thân của tác giả theo quy định
tại các điểm a, b và d.khoản
2 Điều 751, khoản 1 Điều
752 BLDS; do đó, Toà án chỉ thụ lý
đơn khởi kiện để giải
quyết nếu các quyền đó vẫn
còn trong thời hạn bảo hộ.
3.3- Theo quy định của PLTTGQCVDS thì
khi khởi kiện đến Toà án, người
khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp
chứng cứ để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của
mình. Chứng cứ có thể là: giấy
chứng nhận bản quyền tác giả
do Cục Bản quyền tác giả (Bộ
Văn hóa - Thông tin) cấp; văn bản
xác nhận cuả Cục Bản quyền
tác giả hoặc Sở Văn hóa - Thông
tin về việc người khởi
kiện đã nộp đơn đăng
ký bảo hộ quyền tác giả, quyền
sở hữu tác phẩm đối với
tác phẩm chưa được công bố
hoặc các văn bản xác nhận của
các tổ chức xã hội - nghề nghiệp
(hoạt động trong các lĩnh vực
văn học, nghệ thuật, khoa học)
đối với các tác phẩm chưa
đăng ký để làm căn cứ
chứng minh họ là tác giả, đồng
tác giả hoặc chủ sở hữu
tác phẩm và tác phẩm của họ
thuộc loại hình tác phẩm được
Nhà nước bảo hộ...
Trong trường hợp cần thiết
Toà án có thể thu nhập thêm chứng
cứ, quyết định trưng cầu
giám định của các cơ quan chuyên
môn theo yêu cầu của các đương
sự nhằm bảo đảm cho việc
giải quyết vụ án được
chính xác. Người có yêu cầu Toà án
quyết định việc trưng cầu
giám định phải làm đơn, nêu
rõ lý do và phải nộp tiền tạm
ứng chi phí giám định.
3.4- Tác giả có quyền được
hưởng nhuận bút, hưởng thù
lao và các quyền lợi ích vật chất
khác (nếu có) khi tác phẩm được
sử dụng, quyền được
nhận giải thưởng đối
với tác phẩm mà mình là tác giả (trừ
trường hợp tác phẩm không được
Nhà nước bảo hộ); do đó,
chỉ có tác giả (các đồng tác
giả), người thừa kế hợp
pháp của tác giả hoặc người
được uỷ quyền hợp
pháp mới có quyền yêu cầu Toà án bảo
vệ khi các quyền này bị xâm phạm.
Trong trường hợp tác giả (đồng
tác giả) chết mà các quyền này thuộc
về Nhà nước theo quy định
tại khoản 1 Điều 764 và Điều
765 BLDS, thì Nhà nước là chủ sở
hữu các quyền đó. Nếu Nhà nước
có văn bản uỷ quyền cho một
cơ quan, tổ chức cụ thể
nhân danh Nhà nước bảo vệ lợi
ích của Nhà nước khi các quyền
này bị xâm phạm thì cơ quan, tổ
chức được uỷ quyền
có quyền khởi kiện yêu cầu Toà
án bảo vệ lợi ích của Nhà nước.
Nếu Nhà nước không có văn bản
nào quy định thì Viện kiểm soát
cấp tỉnh có quyền tự mình hoặc
theo đề nghị của Cục Bản
quyền tác giả (Bộ Văn hóa - Thông
tin), Sở Văn hoá - Thông tin, các tổ
chức xã hội - nghề nghiệp (
hoạt động trong các lĩnh vực
văn hoá, nghệ thuật, khoa học)
khởi tố vụ án để yêu cầu
Toà án bảo vệ lợi ích của Nhà
nước.
III. Việc áp dụng pháp luật để
giải quyết một số trường
hợp cụ thể
Khi giải quyết vụ án về tranh
chấp liên quan đến quyền tác
giả cần chú ý một số điểm
sau đây:
1. Đối với yêu cầu bảo
vệ các quyền nhân thân thì áp dụng
quy định tại điều tương
ứng trong Chương 1 Phần thứ
6 và Điều 27 BLDS để giải
quyết. Tuỳ từng trường
hợp cụ thể mà quyết định
buộc người vi phạm phải
chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi,
cải chính công khai (kể cả việc
cải chính trên các phương tiện
thông tin đại chúng); bồi thường
thiệt hại về vật chất
và thiệt hại về tinh thần. Thiệt
hại về vật chất cũng như
thiệt hại về tinh thần do quyền
nhân thân bị xâm phạm được
xác định theo quy định tại
các điều 609, 610, 611 và 615 BLDS về
bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng. Đối với
yêu cầu bảo vệ các quyền nhân
thân thì áp dụng quy định tại
điều tương ứng trong Chương
1 Phần thứ 6 và Điều 27 BLDS
để giải quyết. Tuỳ từng
trường hợp cụ thể mà quyết
định buộc người vi phạm
phải chấm dứt hành vi vi phạm,
xin lỗi, cải chính công khai (kể cả
việc cải chính trên các phương
tiện thông tin đại chúng); bồi
thường thiệt hại về vật
chất và thiệt hại về tinh thần.
Thiệt hại về vật chất
cũng như thiệt hại về tinh
thần do quyền nhân thân bị xâm phạm
được xác định theo quy định
tại các điều 609, 610, 611 và 615 BLDS
về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng.
2. Đối với tranh chấp phát sinh
giữa cá nhân với cá nhân về quyền
tác giả hay về quyền đồng
tác giả thì cần phải xác định
ai là tác giả (hoặc là đồng tác
giả) đích thực của tác phẩm.
Theo tinh thần quy định tại khoản
2 Điều 24 NĐ.76/CP thì người
có yêu cầu công nhận mình (hoặc người
để lại thừa kế cho mình)
là tác giả của tác phẩm phải
xuất trình các tư liệu, giấy
tờ cần thiết chứng minh mình
(hoặc người để lại
thừa kế cho mình) là tác giả (hoặc
là đồng tác giả). Các tư liệu,
giấy tờ cần thiết để
chứng minh quyền tác giả có thể
là bản gốc của tác phẩm hoặc
là các tài liệu có liên quan đến bản
gốc của tác phẩm và tác phẩm
đã được công bố. Nếu
đủ chứng cứ để xác
định người đã sáng tạo
ra tác phẩm (một phần hoặc toàn
bộ) thì công nhận quyền tác giả
(quyền đồng tác giả), quyền
sở hữu tác phẩm cho họ (hoặc
cho người để lại thừa
kế cho họ) đối với tác
phẩm hoặc một phần tác phẩm
đó. Đối với tranh chấp phát
sinh giữa cá nhân với cá nhân về quyền
tác giả hay về quyền đồng
tác giả thì cần phải xác định
ai là tác giả (hoặc là đồng tác
giả) đích thực của tác phẩm.
Theo tinh thần quy định tại khoản
2 Điều 24 NĐ.76/CP thì người
có yêu cầu công nhận mình (hoặc người
để lại thừa kế cho mình)
là tác giả của tác phẩm phải
xuất trình các tư liệu, giấy
tờ cần thiết chứng minh mình
(hoặc người để lại
thừa kế cho mình) là tác giả (hoặc
là đồng tác giả). Các tư liệu,
giấy tờ cần thiết để
chứng minh quyền tác giả có thể
là bản gốc của tác phẩm hoặc
là các tài liệu có liên quan đến bản
gốc của tác phẩm và tác phẩm
đã được công bố. Nếu
đủ chứng cứ để xác
định người đã sáng tạo
ra tác phẩm (một phần hoặc toàn
bộ) thì công nhận quyền tác giả
(quyền đồng tác giả), quyền
sở hữu tác phẩm cho họ (hoặc
cho người để lại thừa
kế cho họ) đối với tác
phẩm hoặc một phần tác phẩm
đó.
3. Tác giả đồng thời là chủ
sở hữu tác phẩm có một quyền
đối với tác phẩm theo quy định
tại Điều 751 BLDS, còn tác giả
không đồng thời là chủ sở
hữu tác phẩm thì không có đầy
đủ các quyền đó, bởi vì
một số quyền nhân thân và một
số quyền tài sản như: công bố,
phổ biến hoặc cho người
khác công bố, phổ biến tác phẩm,
cho hoặc không cho người khác sử
dụng tác phẩm; quyền được
hưởng lợi ích vật chất
từ việc sử dụng tác phẩm
dưới các hình thức như: xuất
bản, tái bản, trưng bày, triển
lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền
hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh, dịch,
phóng tác, cải biến, chuyển thể
hay cho thuê.... thuộc về chủ sở
hữu tác phẩm theo quy định tại
Điều 753 BLDS. Tác giả đồng
thời là chủ sở hữu tác phẩm
có một quyền đối với tác
phẩm theo quy định tại Điều
751 BLDS, còn tác giả không đồng thời
là chủ sở hữu tác phẩm thì không
có đầy đủ các quyền đó,
bởi vì một số quyền nhân thân
và một số quyền tài sản như:
công bố, phổ biến hoặc cho người
khác công bố, phổ biến tác phẩm,
cho hoặc không cho người khác sử
dụng tác phẩm; quyền được
hưởng lợi ích vật chất
từ việc sử dụng tác phẩm
dưới các hình thức như: xuất
bản, tái bản, trưng bày, triển
lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền
hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh, dịch,
phóng tác, cải biến, chuyển thể
hay cho thuê.... thuộc về chủ sở
hữu tác phẩm theo quy định tại
Điều 753 BLDS.
Khi thụ lý để giải quyết
tranh chấp về quyền tác giả
(hay các quyền đồng tác giả),
Toà án cần xác định rõ mối quan
hệ có tranh chấp, trong trường
hợp tranh chấp có liên quan đến
quyền của chủ sở hữu tác
phẩm, thì Toà án cần phải đưa
chủ sở hữu tác phẩm vào tham
gia tố tụng với tư cách người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
để bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của họ.
Mối quan hệ giữa tác giả (đồng
tác giả) không đồng thời là chủ
sở hữu tác phẩm với chủ
sở hữu tác phẩm không đồng
thời là tác giả được hình
thành trong trường hợp tác giả
(đồng tác giả) sáng tạo tác phẩm
theo nhiệm vụ được giao
hoặc theo hợp đồng. Quyền
của tác giả (đồng tác giả)
cũng như quyền của chủ sở
hữu tác phẩm.được phân định
theo quy định tại Điều 756
BLDS. Tuy nhiên, giữa tác giả (đồng
tác giả) và chủ sở hữu tác phẩm
có thể thoả thuận với nhau về
một số quyền theo quy định
tại các điểm a và b khoản 1 Điều
753 BLDS; do đó, khi có tranh chấp loại
này, Toà án không những phải căn cứ
vào các quy định của BLDS, NĐ.76/CP,
mà còn phải căn cứ vào nhiệm
vụ mà tác giả (đồng tác giả)
được giao hay thoả thuận
trong hợp đồng được
ký kết giữa tác giả (đồng
tác giả) với chủ sở hữu
tác phẩm để giải quyết.
4. Các quyền của đồng tác giả
được quy định tại Điều
755 BLDS. Khi có tranh chấp giữa các đồng
tác giả với nhau về các quyền
tác giả và nếu hoà giải không thành,
thì Toà án căn cứ vào quy định
tại khoản 1 Điều 755 BLDS để
giải quyết. Đối với tác
phẩm đồng tác giả quy định
tại khoản 1 Điều 755 BLDS thì
việc sử dụng, định đoạt
tác phẩm phải được sự
thoả thuận của tất cả
các đồng tác giả; nếu có đồng
tác giả đã chết thì phải được
sự thoả thuận của người
thừa kế đồng tác giả đó.
Trong trường hợp tác phẩm do
các đồng chí tác giả sáng tạo
gồm các phần riêng biệt có thể
tách ra để sử dụng độc
lập thì Toà án căn cứ vào quy định
tại khoản 2 Điều 755 BLDS để
xác định quyền tác giả của
mỗi đồng tác giả, nếu họ
có yêu cầu. Các quyền của đồng
tác giả được quy định
tại Điều 755 BLDS. Khi có tranh chấp
giữa các đồng tác giả với
nhau về các quyền tác giả và nếu
hoà giải không thành, thì Toà án căn cứ
vào quy định tại khoản 1 Điều
755 BLDS để giải quyết. Đối
với tác phẩm đồng tác giả
quy định tại khoản 1 Điều
755 BLDS thì việc sử dụng, định
đoạt tác phẩm phải được
sự thoả thuận của tất
cả các đồng tác giả; nếu
có đồng tác giả đã chết
thì phải được sự thoả
thuận của người thừa kế
đồng tác giả đó. Trong trường
hợp tác phẩm do các đồng chí
tác giả sáng tạo gồm các phần
riêng biệt có thể tách ra để
sử dụng độc lập thì Toà
án căn cứ vào quy định tại
khoản 2 Điều 755 BLDS để
xác định quyền tác giả của
mỗi đồng tác giả, nếu họ
có yêu cầu.
5. Các quyền tác giả của người
dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên,
chuyển thể cũng được
bảo hộ theo quy định tại
Điều 751 hoặc Điều 752 BLDS,
nhưng cần phải chú ý là khi các tác
giả thuộc diện này thực hiện
việc dịch, phóng tác, biên soạn, cải
biên, chuyển thể tác phẩm gốc....
họ phải được tác giả
hoặc chủ sở hữu tác phẩm
gốc (nếu các quyền tác giả đó
còn trong thời hạn bảo hộ) cho
phép, nhất là trong trường hợp
họ có thay đổi nội dung tác phẩm
gốc. Việc xin phép và trả thù lao
cho tác giả hoặc chủ sở hữu
tác phẩm dịch phóng tác, biên soạn,
cải biên, chuyển thể... phải
được thực hiện thông qua
hợp đồng. Như vậy, khi có
tranh chấp giữa tác giả hoặc
chủ sở hữu tác phẩm gốc
với tác giả tác phẩm dịch, phóng
tác, biên soạn, cải biên, chuyển thể
thì Toà án căn cứ vào quy định
tại Điều 757 BLDS cũng như
các thoả thuận của các bên trong hợp
đồng để giải quyết.
Các quyền tác giả của người
dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên,
chuyển thể cũng được
bảo hộ theo quy định tại
Điều 751 hoặc Điều 752 BLDS,
nhưng cần phải chú ý là khi các tác
giả thuộc diện này thực hiện
việc dịch, phóng tác, biên soạn, cải
biên, chuyển thể tác phẩm gốc....
họ phải được tác giả
hoặc chủ sở hữu tác phẩm
gốc (nếu các quyền tác giả đó
còn trong thời hạn bảo hộ) cho
phép, nhất là trong trường hợp
họ có thay đổi nội dung tác phẩm
gốc. Việc xin phép và trả thù lao
cho tác giả hoặc chủ sở hữu
tác phẩm dịch phóng tác, biên soạn,
cải biên, chuyển thể... phải
được thực hiện thông qua
hợp đồng. Như vậy, khi có
tranh chấp giữa tác giả hoặc
chủ sở hữu tác phẩm gốc
với tác giả tác phẩm dịch, phóng
tác, biên soạn, cải biên, chuyển thể
thì Toà án căn cứ vào quy định
tại Điều 757 BLDS cũng như
các thoả thuận của các bên trong hợp
đồng để giải quyết.
6. Đối với tác phẩm điện
ảnh, vi- đi- ô, phát thanh, truyền
hình, sân khấu và các loại hình biểu
diễn nghệ thuật khác thì những
người là đạo diễn, biên
kịch, quay phim, người dựng phim,
nhạc sỹ, hoạ sỹ được
hưởng các quyền quy định
tại Điều 578 BLDS. Tuy nhiên, họ
chỉ được hưởng các
quyền tác giả đối với tác
phẩm do họ tự sáng tạo mà không
dựa trên nội dung tác phẩm của
người khác hoặc trong trường
hợp tuy có dựa trên nội dung tác phẩm
của người khác, nhưng đã
được sự đồng ý của
tác giả (đồng tác giả) hay chủ
sở hữu tác phẩm gốc (hoặc
của tác giả tác phẩm dịch, phóng
tác, biên soạn, cải biên, chuyển thể...
nếu họ sử dụng tác phẩm
của các tác giả này) và đã thực
hiện đúng các nghĩa vụ theo quy
định tại Điều 778 BLDS.
Khi có tranh chấp giữa một bên là
tác giả (đồng tác giả), chủ
sở hữu tác phẩm gốc (hoặc
tác giả tác phẩm dịch, phóng tác,
biên soạn, cải biên, chuyển thể...)
với bên kia là tác giả (đồng
tác giả) tác phẩm điện ảnh,
vi- đi- ô, phát thanh, truyền hình, sân khấu
và các loại hình biểu diễn nghệ
thuật khác và nếu hoà giải không thành,
thì Toà án căn cứ vào quy định
tại các điều 758, 760 và 778 BLDS để
giải quyết. Tương tự như
vậy, Toà án có thể thụ lý và giải
quyết tranh chấp giữa tác giả,
chủ sở hữu tác phẩm với
người sưu tầm những tác
phẩm đã công bố để làm thành
tuyển tập, hợp tuyển. Đối
với tác phẩm điện ảnh,
vi- đi- ô, phát thanh, truyền hình, sân khấu
và các loại hình biểu diễn nghệ
thuật khác thì những người là
đạo diễn, biên kịch, quay phim,
người dựng phim, nhạc sỹ,
hoạ sỹ được hưởng
các quyền quy định tại Điều
578 BLDS. Tuy nhiên, họ chỉ được
hưởng các quyền tác giả đối
với tác phẩm do họ tự sáng tạo
mà không dựa trên nội dung tác phẩm
của người khác hoặc trong trường
hợp tuy có dựa trên nội dung tác phẩm
của người khác, nhưng đã
được sự đồng ý của
tác giả (đồng tác giả) hay chủ
sở hữu tác phẩm gốc (hoặc
của tác giả tác phẩm dịch, phóng
tác, biên soạn, cải biên, chuyển thể...
nếu họ sử dụng tác phẩm
của các tác giả này) và đã thực
hiện đúng các nghĩa vụ theo quy
định tại Điều 778 BLDS.
Khi có tranh chấp giữa một bên là
tác giả (đồng tác giả), chủ
sở hữu tác phẩm gốc (hoặc
tác giả tác phẩm dịch, phóng tác,
biên soạn, cải biên, chuyển thể...)
với bên kia là tác giả (đồng
tác giả) tác phẩm điện ảnh,
vi- đi- ô, phát thanh, truyền hình, sân khấu
và các loại hình biểu diễn nghệ
thuật khác và nếu hoà giải không thành,
thì Toà án căn cứ vào quy định
tại các điều 758, 760 và 778 BLDS để
giải quyết. Tương tự như
vậy, Toà án có thể thụ lý và giải
quyết tranh chấp giữa tác giả,
chủ sở hữu tác phẩm với
người sưu tầm những tác
phẩm đã công bố để làm thành
tuyển tập, hợp tuyển.
7. Theo quy định tại khoản 2
Điều 758 BLDS thì cá nhân, tổ chức
sản xuất tác phẩm điện
ảnh, vi- đi- ô, phát thanh, truyền
hình, sân khấu và các loại hình biểu
diễn nghệ thuật khác được
hưởng các quyền quy định
tại khoản 1 và điểm c khoản
2 Điều 751 BLDS. Tuy nhiên, để
được hưởng các quyền
này, cá nhân, tổ chức thuộc diện
này phải thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ đó đối
với tác giả (kể cả tác giả
tác phẩm gốc cũng như tác giả
dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên,
chuyển thể.... hoặc tác giả
là những người đạo diễn,
biên kịch, quay phim, dựng phim, nhạc
sỹ, hoạ sỹ...) và đối với
chủ sở hữu tác phẩm theo quy
định của pháp luật, trừ
trường hợp họ đồng
thời vừa là tác giả, vừa là
chủ sở hữu tác phẩm. Như
vậy, trong trường hợp cá nhân,
tổ chức sản xuất tác phẩm
điện ảnh, vi- đi- ô, phát thanh,
truyền hình, sân khấu và các loại
hình biểu diễn nghệ thuật khác
có sử dụng tác phẩm của người
khác mà không thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ đối với tác giả
và chủ sở hữu tác phẩm, thì
những người này có quyền yêu
cầu cá nhân, tổ chức sản xuất
nói trên phải thực hiện các nghĩa
vụ đó. Nếu có đơn khởi
kiện thì Toà án căn cứ vào quy định
của BLDS và hướng dẫn tại
Thông tư này để giải quyết.
Tương tự như vậy, Toà án
có thể thụ lý và giải quyết
tranh chấp giữa tác giả, chủ
sở hữu tác phẩm với người
biểu diễn. Theo quy định tại
khoản 2 Điều 758 BLDS thì cá nhân,
tổ chức sản xuất tác phẩm
điện ảnh, vi- đi- ô, phát thanh,
truyền hình, sân khấu và các loại
hình biểu diễn nghệ thuật khác
được hưởng các quyền
quy định tại khoản 1 và điểm
c khoản 2 Điều 751 BLDS. Tuy nhiên,
để được hưởng
các quyền này, cá nhân, tổ chức thuộc
diện này phải thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ đó đối
với tác giả (kể cả tác giả
tác phẩm gốc cũng như tác giả
dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên,
chuyển thể.... hoặc tác giả
là những người đạo diễn,
biên kịch, quay phim, dựng phim, nhạc
sỹ, hoạ sỹ...) và đối với
chủ sở hữu tác phẩm theo quy
định của pháp luật, trừ
trường hợp họ đồng
thời vừa là tác giả, vừa là
chủ sở hữu tác phẩm. Như
vậy, trong trường hợp cá nhân,
tổ chức sản xuất tác phẩm
điện ảnh, vi- đi- ô, phát thanh,
truyền hình, sân khấu và các loại
hình biểu diễn nghệ thuật khác
có sử dụng tác phẩm của người
khác mà không thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ đối với tác giả
và chủ sở hữu tác phẩm, thì
những người này có quyền yêu
cầu cá nhân, tổ chức sản xuất
nói trên phải thực hiện các nghĩa
vụ đó. Nếu có đơn khởi
kiện thì Toà án căn cứ vào quy định
của BLDS và hướng dẫn tại
Thông tư này để giải quyết.
Tương tự như vậy, Toà án
có thể thụ lý và giải quyết
tranh chấp giữa tác giả, chủ
sở hữu tác phẩm với người
biểu diễn.
8. Các tranh chấp về hợp đồng
sử dụng tác phẩm có thể phát
sinh giữa tác giả (đồng tác giả)
hoặc người thừa kế hợp
pháp của tác giả, chủ sở hữu
tác phẩm với bên sử dụng tác
phẩm, nếu giữa họ đã ký
kết hợp đồng sử dụng
tác phẩm theo quy định tại Điều
767 BLDS. Nội dung của hợp đồng,
quyền và nghĩa vụ của các bên
trong hợp đồng sử dụng
tác phẩm được quy định
tại điều từ Điều 768
đến Điều 772 BLDS và tại
các điều từ Điều 15 đến
Điều 18 NĐ.76/CP; do đó, khi có
tranh chấp loại này, Toà án căn cứ
vào các quy định đó và thoả thuận
của họ trong hợp đồng để
giải quyết. Các tranh chấp về
hợp đồng sử dụng tác phẩm
có thể phát sinh giữa tác giả (đồng
tác giả) hoặc người thừa
kế hợp pháp của tác giả, chủ
sở hữu tác phẩm với bên sử
dụng tác phẩm, nếu giữa họ
đã ký kết hợp đồng sử
dụng tác phẩm theo quy định tại
Điều 767 BLDS. Nội dung của hợp
đồng, quyền và nghĩa vụ
của các bên trong hợp đồng sử
dụng tác phẩm được quy định
tại điều từ Điều 768
đến Điều 772 BLDS và tại
các điều từ Điều 15 đến
Điều 18 NĐ.76/CP; do đó, khi có
tranh chấp loại này, Toà án căn cứ
vào các quy định đó và thoả thuận
của họ trong hợp đồng để
giải quyết.
9. Khi giải quyết các tranh chấp thừa
kế quyền tác giả, ngoài việc
phải tuân theo các quy định tại
Điều 764 và Điều 765 BLDS, Toà
án cần chú ý là: người thừa kế
chỉ được thừa kế các
quyền của tác trong thời hạn
được bảo hộ. Theo quy định
tại Điều 766 BLDS thì thời hạn
bảo hộ quyền tác giả sau khi
tác giả chết như sau: Khi giải
quyết các tranh chấp thừa kế
quyền tác giả, ngoài việc phải
tuân theo các quy định tại Điều
764 và Điều 765 BLDS, Toà án cần chú
ý là: người thừa kế chỉ
được thừa kế các quyền
của tác trong thời hạn được
bảo hộ. Theo quy định tại
Điều 766 BLDS thì thời hạn bảo
hộ quyền tác giả sau khi tác giả
chết như sau:
a. 50 năm tiếp theo năm tác giả
chết;
b. 50 năm tiếp theo năm đồng
tác giả cuối cùng chết đối
với tác phẩm đồng tác giả;
c. 50 năm tiếp theo năm tác giả
chết đối với trường
hợp tác giả chết mà người
thừa kế của tác giả được
hưởng các quyền nhân thân quy định
tại các điểm c, d khoản 1 và
các quyền tài sản quy định tại
khoản 2 Điều 751, khoản 2 Điều
752 BLDS.
Trong trường hợp người thừa
kế của tác giả chết trước
khi hết thời hạn bảo hộ
nêu trên thì người thừa kế của
người đó được hưởng
các quyền của tác giả quy định
tại khoản 1 Điều 764 BLDS cho
đến hết thời hạn bảo
hộ; do đó, người này có quyền
khởi kiện tại Toà án để
yêu cầu bảo vệ các quyền của
tác giả và quyền thừa kế của
mình cho đến hết thời hạn
bảo hộ. Thời điểm kết
thúc thời hạn 50 năm bảo hộ
quyền tác giả được quy định
cụ thể tại Điều 14 NĐ.76/CP.
Tác giả đồng thời là chủ
sở hữu tác phẩm hoặc tác giả
không đồng thời là chủ sở
hữu tác phẩm có quyền nhận giải
thưởng đối với tác phẩm
mà mình là tác giả. Quyền này cũng
được bảo hộ 50 năm
tiếp theo năm tác giả chết; do
đó, nếu sau khi kết thúc thời
hạn bảo hộ 50 năm, kể từ
ngày tác giả chết hoặc đồng
tác giả cuối cùng chết mà tác giả
hoặc đồng tác giả nhận
giải thưởng thì họ chỉ
được hưởng các quyền
nhân thân, còn quyền về tài sản đối
với giá trị vật chất kèm theo
giải thưởng thuộc về Nhà
nước. Trong trường hợp họ
được nhận giải thưởng
và thời hạn bảo hộ 50 năm
chưa chấm dứt, thì các thừa kế
của họ được quyền
thừa kế giá trị vật chất
kèm theo giải thưởng theo các quy định
về thừa kế tài sản của
BLDS. Thời hiệu khởi kiện thừa
kế quy định tại Điều
648 BLDS là 10 năm được tính từ
ngày có giải thưởng.
10. Quyền của tổ chức sản
xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh,
băng hình, đĩa hình được
quy định tại Điều 777 BLDS
và quyền của tổ chức phát thanh,
truyền hình được quy định
tại Điều 779 BLDS chỉ có được
khi các tổ chức này đã thực hiện
đầy đủ mọi nghĩa vụ
của mình theo quy định tại các
điều 760, 776 và 778 BLDS. Các quyền
này cũng là quyền của các tổ
chức đó đối với sản
phẩm do họ sản xuất ra, còn
tác giả, chủ sở hữu tác phẩm
vẫn có quyền đối với sản
phẩm đó theo quy định của
pháp luật hoặc theo hợp đồng
(được ký kết giữa tổ
chức sản xuất đó với tác
giả hoặc đồng tác giả,
chủ sở hữu tác phẩm). Khi có
hành vi vi phạm các quyền của tổ
chức sản xuất băng âm thanh,
đĩa âm thanh, băng hình, đĩa
hình hoặc quyền của tổ chức
phát thanh, truyền hình như: nhân bản,
phát hành sản phẩm, phát sóng chương
trình, làm các bản sao chương trình
của các tổ chức này nhằm mục
đích kinh doanh trái pháp luật..., thì không
chỉ các tổ chức nói trên có quyền
khởi kiện, mà tác giả, chủ sở
hữu tác phẩm cũng có quyền khởi
kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của họ. Tương
tự như vậy, người biểu
diễn cũng có quyền khởi kiện
đối với người có hành vi
vi phạm quyền của tổ chức
sản xuất băng âm thanh, đĩa
âm thanh, băng hình, đĩa hình như:
nhân bản, phát hành các sản phẩm đó
trái pháp luật. Quyền của tổ
chức sản xuất băng âm thanh,
đĩa âm thanh, băng hình, đĩa
hình được quy định tại
Điều 777 BLDS và quyền của tổ
chức phát thanh, truyền hình được
quy định tại Điều 779 BLDS
chỉ có được khi các tổ chức
này đã thực hiện đầy đủ
mọi nghĩa vụ của mình theo quy
định tại các điều 760, 776
và 778 BLDS. Các quyền này cũng là quyền
của các tổ chức đó đối
với sản phẩm do họ sản
xuất ra, còn tác giả, chủ sở
hữu tác phẩm vẫn có quyền đối
với sản phẩm đó theo quy định
của pháp luật hoặc theo hợp
đồng (được ký kết giữa
tổ chức sản xuất đó với
tác giả hoặc đồng tác giả,
chủ sở hữu tác phẩm). Khi có
hành vi vi phạm các quyền của tổ
chức sản xuất băng âm thanh,
đĩa âm thanh, băng hình, đĩa
hình hoặc quyền của tổ chức
phát thanh, truyền hình như: nhân bản,
phát hành sản phẩm, phát sóng chương
trình, làm các bản sao chương trình
của các tổ chức này nhằm mục
đích kinh doanh trái pháp luật..., thì không
chỉ các tổ chức nói trên có quyền
khởi kiện, mà tác giả, chủ sở
hữu tác phẩm cũng có quyền khởi
kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của họ. Tương
tự như vậy, người biểu
diễn cũng có quyền khởi kiện
đối với người có hành vi
vi phạm quyền của tổ chức
sản xuất băng âm thanh, đĩa
âm thanh, băng hình, đĩa hình như:
nhân bản, phát hành các sản phẩm đó
trái pháp luật.
11. Trong trường hợp hành vi vi phạm
quyền tác giả bị xử lý theo
quy định của Bộ luật hình
sự, thì khi xét xử các vụ án hình
sự loại này Toà án cần chú ý đến
việc bảo vệ quyền của
tác giả đã bị các hành vi phạm
tội đó xâm phạm, nếu có yêu cầu.
Trong trường hợp hành vi vi phạm
quyền tác giả bị xử lý theo
quy định của Bộ luật hình
sự, thì khi xét xử các vụ án hình
sự loại này Toà án cần chú ý đến
việc bảo vệ quyền của
tác giả đã bị các hành vi phạm
tội đó xâm phạm, nếu có yêu cầu.
IV. Về sự phối hợp trong
việc giải quyết tranh chấp liên
quan đến quyền tác
Trong quá trình giải quyết tranh chấp,
liên quan đến quyền tác giả,
cần có sự phối hợp chặt
chẽ giữa Toà án, Viện kiểm sát
với Cục Bản quyền tác giả
(Bộ Văn hóa - Thông tin), Sở Văn
hoá - Thông tin để thực hiện
các việc sau đây:
1. Khi có vấn đề về chuyên môn
trong lĩnh vực văn hoá - thông tin cần
phải có ý kiến của chuyên ngành Văn
hoá - Thông tin mà Toà án đã có văn bản
yêu cầu, thì Cục Bản quyền tác
giả, Sở Văn hóa - Thông tin có trách
nhiệm trả về các vấn đề
mà Toà án đã yêu cầu hoặc thành lập
Hội đồng giám định để
thực hiện yêu cầu của Toà án.
Khi có vấn đề về chuyên môn trong
lĩnh vực văn hoá - thông tin cần
phải có ý kiến của chuyên ngành Văn
hoá - Thông tin mà Toà án đã có văn bản
yêu cầu, thì Cục Bản quyền tác
giả, Sở Văn hóa - Thông tin có trách
nhiệm trả về các vấn đề
mà Toà án đã yêu cầu hoặc thành lập
Hội đồng giám định để
thực hiện yêu cầu của Toà án.
2. Khi tiến hành việc truy tố, xét
xử các vụ án hình sự mà thấy
có hành vi xâm phạm quyền tác giả,
Viện kiểm soát, Toà án cần thông báo
cho Cục Bản quyền tác giả, Sở
Văn hóa - Thông tin để các cơ quan
này có thể tham gia tố tụng hoặc
theo dõi kết quả bảo vệ quyền
tác giả trong phạm vi chức năng
của mình. Khi tiến hành việc truy
tố, xét xử các vụ án hình sự
mà thấy có hành vi xâm phạm quyền
tác giả, Viện kiểm soát, Toà án cần
thông báo cho Cục Bản quyền tác giả,
Sở Văn hóa - Thông tin để các
cơ quan này có thể tham gia tố tụng
hoặc theo dõi kết quả bảo vệ
quyền tác giả trong phạm vi chức
năng của mình.
V. Hướng dẫn về hiệu
lực của Thông tư.
1. Thông tư này có hiệu lực kể
từ ngày 21 tháng 12 năm 2001.
2. Thông tư này cũng được
áp dụng để giải quyết các
vụ án về tranh chấp liên quan đến
quyền tác giả của cá nhân, tổ
chức nước ngoài, tổ chức
quốc tế đối với các tác
phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học lần đầu tiên được
công bố, phổ biến tại Việt
Nam hoặc được sáng tạo,
thể hiện dưới hình thức
nhất định tại Việt Nam
theo quy định tại Điều 12
Nghị định số 60/CP ngày 6/6/1997
của Chính phủ "H ướng dẫn
thi hành các quy định của Bộ
luật dân sự về quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài", trừ
trường hợp tác phẩm không được
Nhà nước Việt Nam bảo hộ
theo quy định tại Điều 749
BLDS. Thông tư này cũng được
áp dụng để giải quyết các
vụ án về tranh chấp liên quan đến
quyền tác giả của cá nhân, tổ
chức nước ngoài, tổ chức
quốc tế đối với các tác
phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học lần đầu tiên được
công bố, phổ biến tại Việt
Nam hoặc được sáng tạo,
thể hiện dưới hình thức
nhất định tại Việt Nam
theo quy định tại Điều 12
Nghị định số 60/CP ngày 6/6/1997
của Chính phủ "H ướng dẫn
thi hành các quy định của Bộ
luật dân sự về quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài", trừ
trường hợp tác phẩm không được
Nhà nước Việt Nam bảo hộ
theo quy định tại Điều 749
BLDS.
3. Hướng dẫn tại Thông tư
này được áp dụng để
giải quyết các vụ án về tranh
chấp liên quan đến quyền tác
giả phát sinh từ 01/7/1996. Các hướng
dẫn trước đây có nội dung
trái với Thông tư này đều bãi
bỏ. Hướng dẫn tại Thông
tư này được áp dụng để
giải quyết các vụ án về tranh
chấp liên quan đến quyền tác
giả phát sinh từ 01/7/1996. Các hướng
dẫn trước đây có nội dung
trái với Thông tư này đều bãi
bỏ.
4. Đối với các vụ án mà trước
đây Toà án đã giải quyết xong
(Bản án, Quyết định của
Toà án đã có hiệu lực pháp luật),
thì không áp dụng hướng dẫn tại
Thông tư này để kháng nghị theo
trình tự giám đốc thẩm, trừ
trường hợp có những căn
cứ khác. Đối với các vụ
án mà trước đây Toà án đã giải
quyết xong (Bản án, Quyết định
của Toà án đã có hiệu lực pháp
luật), thì không áp dụng hướng
dẫn tại Thông tư này để
kháng nghị theo trình tự giám đốc
thẩm, trừ trường hợp có
những căn cứ khác.
5. Trong quá trình thực hiện nếu có
gì vướng mắc hoặc chưa được
hướng dẫn cần giải thích,
hướng dẫn bổ sung, thì đề
nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối
cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao.
Bộ Văn hóa - Thông tin để có sự
giải thích hoặc hướng dẫn
bổ sung kịp thời.
|
|