|
Căn cứ Luật tổ chức Chính
phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Bộ luật Dân sự của nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 28 tháng 10 năm 1995;
Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội về việc thi
hành Bộ luật Dân sự ngày 28 tháng 10 năm 1995;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông
tin,
Điều 1.- Nghị định này
hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền
tác giả tại chương I phần thứ sáu trong Bộ luật
Dân sự, dưới đây gọi tắt là Bộ luật.
Điều 2.- Tác giả: 1. Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra toàn
bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học.
2. Người sưu tầm những tác phẩm đã công bố của
người khác để làm tuyển tập, hợp tuyển, sắp
xếp theo một chủ đề nhất định, có tính sáng
tạo thì được công nhận là tác giả của tác phẩm
tuyển tập hoặc hợp tuyển. Quyền tác giả này
không làm ảnh hưởng đến quyền của tác giả tác
phẩm gốc.
3. Để được công nhận là tác giả, những người
quy định tại các khoản 1, 2 của Điều này phải
đề tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm được
công bố, phổ biến.
4. Người dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên,
chuyển thể phải ghi rõ tên tác giả tác phẩm gốc
và không được ghi tên mình ngang hàng với tác giả
tác phẩm gốc.
5. Cá nhân, tổ chức làm công việc hỗ trợ, góp
ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng
tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả.
Điều 3.- Chủ sở hữu
tác phẩm: 1. Chủ sở hữu tác phẩm có quyền chuyển giao một
phần hoặc toàn bộ quyền sở hữu tác phẩm cho
cá nhân hoặc một pháp nhân khác, nhưng việc chuyển
giao đó phải được thực hiện thông qua hợp đồng
bằng văn bản. Việc chuyển giao một phần quyền
sở hữu tác phẩm không ảnh hưởng đến phần còn
lại của quyền sở hữu tác phẩm.
2. Cá nhân hoặc tổ chức chịu trách nhiệm cung cấp
tài chính hoặc các điều kiện có tính chất quyết
định cho việc phát triển phần mền máy tính là
chủ sở hữu phần mềm máy tính đó, trừ trường
hợp các bên có thoả thuận khác.
Điều 4.- Các loại hình
tác phẩm được bảo hộ quy định tại Điều 747
của Bộ luật được hiểu như sau: 1. Tác phẩm viết thể hiện dưới hình thức chữ
viết hoặc ký tự như: tiểu thuyết, truyện vừa,
truyện ngắn, bút ký, ký sự, tuỳ bút, hồi ký,
thơ, trường ca, kịch bản, bản nhạc, công trình
nghiên cứu văn hoá, văn học, nghệ thuật và các
bài viết khác.
2. Các bài giảng, bài phát biểu được viết sẵn
hoặc được trình bày bằng lời nói, song được
ghi âm và lưu hành thành văn bản.
3. Tác phẩm sân khấu và các loại hình biểu diễn
nghệ thuật khác được trình diễn trên sân khẩu
như: vở diễn, ca nhạc, múa, xiếc, rối và các hình
thức tương tự.
4. Tác phẩm điện ảnh, vi-di-ô có hoặc không có
âm thanh kèm theo.
5. Tác phẩm phát thanh, truyền hình được tạo ra
để truyền đến công chúng qua sóng điện từ.
6. Tác phẩm báo chí gồm báo in, báo nói, báo hình,
bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số
Việt Nam, tiếng nước ngoài.
7. Tác phẩm âm nhạc gồm thanh nhạc và khí nhạc
được thể hiện bằng giọng hát, nhạc cụ.
8. Tác phẩm kiến trúc là các bản vẽ thiết kế
thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công
trình xây dựng, quy hoạch không gian đã hoặc chưa
xây dựng.
9. Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng gồm
hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, mỹ thuật ứng
dụng hoặc các hình thức tương tự.
10. Tác phẩm nhiếp ảnh thể hiện hình ảnh của
vật thể khách quan trên vật liệu bắt sáng.
11. Công trình khoa học, sách giáo khoa, giáo trình
thuộc các lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, huấn
luyện.
12. Các bức hoạ đồ, bản vẽ, sơ đồ, bản đồ
có liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình
khoa học.
13. Tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể,
biên soạn, chú giải, tuyển tập, hợp tuyển:
a) Tác phẩm dịch chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn
ngữ khác, từ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ.
b) Tác phẩm phóng tác được sáng tạo ra dựa theo
nội dung của một tác phẩm đã có.
c) Tác phẩm cải biên được sáng tạo ra trên cơ
sở một tác phẩm gốc bằng cách thay đổi hình
thức diễn đạt.
d) Tác phẩm chuyển thể từ loại hình này sang loại
hình khác.
đ) Tác phẩm biên soạn được tuyển chọn theo một
chủ đề có thể có bình luận, đánh giá.
e) Tác phẩm chú giải làm rõ nghĩa một số từ,
câu hoặc địa danh của một tác phẩm đã có.
g) Tác phẩm tuyển tập tập hợp những tác phẩm
hoặc bài viết được chọn lọc của một hoặc
nhiều tác giả.
h) Tác phẩm hợp tuyển được tuyển chọn từ nhiều
tác phẩm của nhiều tác giả theo một yêu cầu nhất
định.
14. Phần mềm máy tính gồm chương trình máy tính,
tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ,
cơ sở dữ liệu.
Điều 5.- Công bố, phổ
biến tác phẩm:
Việc công bố, phổ biến tác phẩm là trình bày
tác phẩm trước công chúng dưới dạng thuyết trình,
trưng bày, xuất bản, biểu diễn, phát thanh, truyền
hình và các hình thức khác.
Điều 6.- Thời điểm phát
sinh quyền tác giả:
Quyền tác giả đối với tác phẩm phát sinh thời
điểm tác phẩm sáng tạo được thể hiện dưới
một hình thức vật chất nhất định, không phân
biệt tác phẩm đã công bố hoặc chưa công bố,
đã đăng ký bảo hộ hoặc chưa đăng ký bảo hộ.
Điều 7.- Quyền yêu cầu
được bảo hộ:
Tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm quy định tại
Điều 747, người biểu diễn, tổ chức sản xuất
băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình,
tổ chức phát thanh, truyền hình quy định tại các
Điều 775, 777, 779 của Bộ luật có quyền yêu cầu
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo hộ khi các
quyền của mình bị xâm phạm.
Điều 8.- Các quyền của
tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm: 1. Các quyền nhân thân của tác giả quy định tại
các điểm c, d, khoản 1 Điều 751 của Bộ luật có
thể được chuyển giao cho người khác. Việc chuyển
giao đó phải được thực hiện thông qua hợp đồng
bằng văn bản.
2. Quyền của tác giả về việc công bố, phổ
biến tác phẩm hoặc cho người khác công bố, phổ
biến tác phẩm quy định tại điểm c, khoản 1
Điều 751 của Bộ luật được thực hiện đối
với các hình thức sau đây:
a) Xuất bản, tái bản, sao chép tác phẩm.
b) Biểu diễn hoặc trưng bày tác phẩm trước công
chúng.
c) Truyền đạt tác phẩm tới công chúng bằng bất
kỳ phương tiện hoặc cách thức nào.
d) Phân phối tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm bằng
cách bán, cho thuê hoặc bằng cách khác.
đ) Nhập khẩu các bản sao tác phẩm của mình từ
nước ngoài vào Việt Nam.
3. Quyền của tác giả cho phép hoặc không cho phép
người khác sử dụng tác phẩm quy định tại điểm
d, khoản 1 Điều 751 của Bộ luật được thực hiện
đối với các hình thức sau đây:
a) Sao chép lại tác phẩm dưới bất kỳ hình thức
nào.
d) Dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên, chuyển
thể.
4. Việc thanh toán nhuận bút, thù lao hoặc các lợi
ích vật chất mà tác giả được hưởng theo quy
định tại khoản 2 Điều 751 của Bộ luật được
xác định theo hợp đồng giữa tác giả với cá
nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm.
Điều 9.- Các quyền của
chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác
giả: 1. Các quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 8 của
Nghị định này cũng được áp dụng đối với các
quyền nhân thân của chủ sở hữu tác phẩm không
đồng thời là tác giả quy định tại khoản 1 Điều
753 của Bộ luật. 2. Quy định tại khoản 4 Điều
8 của Nghị định này cũng được áp dụng đối
với quyền tài sản của chủ sở hữu tác phẩm
không đồng thời là tác giả quy định tại khoản
2 Điều 753 của Bộ luật.
Điều 10.- Các quyền của
đồng tác giả:
Đối với tác phẩm đồng tác giả quy định tại
khoản 1 Điều 755 của Bộ luật thì việc sử dụng,
định đoạt tác phẩm phải được sự thoả thuận
của tất cả các đồng tác giả, nếu có đồng
tác giả đã chết thì phải được sự thoả thuận
của người thừa kế của đồng tác giả đó.
Điều 11.- Các quyền của
tác giả dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên, chuyển
thể:
Trong trường hợp cá nhân, tổ chức dựa vào tác
phẩm dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên, chuyển
thể của người khác để sáng tạo ra tác phẩm
mới thì phải được sự đồng ý của tác giả
hoặc chủ sở hữu tác phẩm.
Việc xin phép và trả thù lao cho tác giả hoặc chủ
sở hữu tác phẩm dịch, phóng tác, biên soạn, cải
biên, chuyển thể phải được thực hiện thông qua
hợp đồng.
Điều 12.- Các hình thức
sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải
trả thù lao: 1. Việc sao lại tác phẩm để sử dụng riêng quy
định tại điểm a, khoản 1 Điều 761 của Bộ luật
không được quá một bản.
2. Phần trích dẫn tác phẩm đã công bố của người
khác theo quy định tại các điểm b, c, d khoản 1
Điều 761 của Bộ luật không trở thành phần chính
của tác phẩm mới; phần trích dẫn này chỉ giới
hạn trong phạm vi giới thiệu, bình luận hoặc làm
sáng tỏ vấn đề trong tác phẩm của mình và phải
ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm được
trích dẫn.
3. Việc dịch tác phẩm từ tiếng Việt sang tiếng
dân tộc thiểu số Việt Nam và ngược lại theo quy
định tại điểm e khoản 1 Điều 761 của Bộ luật
chỉ áp dụng đối với tác phẩm gốc là tiếng
Việt hoặc tiếng dân tộc thiểu số.
4. Các buổi biểu diễn công cộng quy định tại
điểm g khoản 1 Điều 761 của Bộ luật chỉ được
áp dụng đối với các buổi biểu diễn không thu
tiền vào cửa dưới mọi hình thức.
Điều 13.- Thừa kế quyền
tác giả: 1. Trong trường hợp thừa kế quyền tác giả theo
pháp luật thì những người được thừa kế cùng
hàng có quyền ngang nhau trong việc sử dụng, định
đoạt tác phẩm. Việc sử dụng, định đoạt tác
phẩm phải có sự thoả thuận của tất cả những
người thừa kế, nếu họ không thoả thuận được
với nhau thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong trường hợp thừa kế quyền tác giả theo di
chúc hợp pháp nếu có nhiều người cùng được
hưởng thừa kế theo di chúc thì những người thừa
kế được sử dụng, định đoạt tác phẩm theo
phạm vi đã được xác định cụ thể trong nội
dung di chúc. Trong trường hợp nội dung di chúc không
nói rõ phạm vi của việc sử dụng, định đoạt
tác phẩm của từng người thừa kế, thì việc sử
dụng, định đoạt tác phẩm phải được sự thoả
thuận của tất cả những người thừa kế theo di
chúc; nếu họ không thoả thuận được thì có quyền
yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Trường hợp tác giả hoặc đồng tác giả không
có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận
di sản hoặc không được quyền hưởng di sản thừa
kế thì các quyền về tài sản của tác giả thuộc
về Nhà nước.
Bộ Văn hoá - Thông tin có trách nhiệm quy định,
hướng dẫn việc sử dụng tác phẩm nói trên và
cách thức trả thù lao.
Điều 14.- Thời hạn bảo
hộ quyền tác giả: 1. Thời điểm kết thúc thời hạn 50 năm bảo hộ
quyền tác giả trong các khoản 2, 3 Điều 766 của
Bộ luật được tính đến ngày 31 tháng 12 của năm
thứ 50.
2. Thời điểm kết thúc thời hạn 50 năm bảo hộ
đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm phát thanh,
truyền hình, vi-đi-ô, tác phẩm di cảo; đối với
quyền của các tổ chức sản xuất băng âm thanh,
đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình, tổ chức phát
thanh, truyền hình quy định tại khoản 4 Điều 766,
các Điều 777, 779 của Bộ luật là ngày 31 tháng
12 của năm thứ 50 tính từ ngày tác phẩm được
công bố lần đầu tiên.
3. Mọi trường hợp chuyển giao các quyền nhân thân
quy định tại các điểm c, d khoản 1 và các quyền
tài sản quy định tại các điểm a, b, c khoản 2
Điều 751 của Bộ luật đều không được vượt
quá thời hạn bảo hộ mà pháp luật đã quy định.
Điều 15.- Hợp đồng sử
dụng tác phẩm: 1. Hợp đồng sử dụng tác phẩm phải được ký
kết phù hợp với các quy định tại các Điều 767,
768 của Bộ luật và phải theo mẫu hợp đồng sử
dụng tác phẩm do Bộ Văn hoá - Thông tin ban hành.
2. Việc ký kết hợp đồng sử dụng tác phẩm đồng
tác giả phải có sự thoả thuận của các đồng
tác giả hoặc người được chuyển giao quyền của
đồng tác giả với bên sử dụng tác phẩm về các
nội dung quy định tại Điều 768 của Bộ luật.
Các đồng tác giả hoặc người được chuyển giao
quyền của đồng tác giả và bên sử dụng tác phẩm
đều phải ký tên trên hợp đồng.
Điều 16.- Nghĩa vụ của
tác giả, chủ sở hữu tác phẩm: 1. Phải chuyển giao tác phẩm cho bên sử dụng tác
phẩm để công bố, phổ biến tác phẩm của mình
theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.
2. Trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực, tác giả,
chủ sở hữu tác phẩm không được chuyển giao toàn
bộ hoặc một phần tác phẩm cho cá nhân tổ chức
khác công bố, phổ biến mà không có sự đồng ý
bằng văn bản của bên sử dụng tác phẩm, trừ
trường hợp hai bên có thoả thuận khác.
Điều 17.- Nghĩa vụ của bên sử dụng tác
phẩm: 1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tác giả hoặc
chủ sở hữu tác phẩm chuyển giao tác phẩm cho bên
sử dụng, bên sử dụng tác phẩm phải thông báo
bằng văn bản cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác
phẩm về việc tác phẩm có được chấp nhận hay
không, trừ trường hợp hai bên có thoả thuận khác.
Trường hợp tác phẩm cần phải sửa chữa, hoàn
chỉnh thêm theo yêu cầu của tác giả, chủ sở hữu
tác phẩm thì thời gian giao bản thảo sau khi hoàn
chỉnh do hai bên thoả thuận.
2. Nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của
tác giả, bên sử dụng tác phẩm không được thay
đổi tên tác giả, nội dung tác phẩm, lời nói đầu,
lời bạt, chú thích hoặc minh hoạ của tác phẩm.
3. Bên sử dụng tác phẩm phải thực hiện đúng
các thoả thuận đã ghi trong hợp đồng về thời
gian công bố, phổ biến tác phẩm, hình thức sử
dụng, phạm vi sử dụng tác phẩm, mức nhuận bút
hoặc thù lao, thời gian, phương thức thanh toán nhuận
bút hoặc thù lao.
Điều 18.- Các trường hợp
huỷ hợp đồng: 1. Tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm có quyền
huỷ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại
trong trường hợp bên sử dụng tác phẩm không thực
hiện đúng các quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều
771 của Bộ luật và quy định tại các khoản 2,
3 Điều 17 của Nghị định này.
2. Bên sử dụng tác phẩm có quyền huỷ hợp đồng
và yêu cầu tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm
phải bồi thường thiệt hại đối với các trường
hợp sau đây:
a) Tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ theo
quy định tại điều 749 của Bộ luật.
b) Tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm không chuyển
giao tác phẩm theo đúng thời hạn quy định trong
hợp đồng.
c) Tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm từ chối
thực hiện các thoả thuận của hai bên trong hợp
đồng.
Điều 19.- Nghĩa vụ của
người biểu diễn quy định tại Điều 774 của Bộ
luật được làm rõ thêm đối với các trường hợp
sau đây:
Trường hợp sử dụng tác phẩm chưa công bố của
người khác để biểu diễn thì phải được sự
đồng ý bằng văn bản của tác giả hoặc chủ sở
hữu tác phẩm. Việc trả thù lao phải thực hiện
theo hợp đồng thoả thuận giữa người biểu diễn
với tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm.
Điều 20.- Quyền của người
biểu diễn quy định tại Điều 755 của Bộ luật
được làm rõ thêm đối với các trường hợp sau
đây: 1. Người biểu diễn có quyền hưởng thù lao từ
việc cho người khác sử dụng chương trình biểu
diễn của mình để sản xuất sản phẩm ghi âm,
ghi hình nhằm mục đích kinh doanh hoặc xây dựng
chương trình phát thanh, truyền hình để phát sóng
theo quy định tại các khoản 3, 4 Điều 775 của Bộ
luật.
2. Khi bị cá nhân, tổ chức xâm phạm quyền của
mình quy định tại Điều 775 của Bộ luật thì người
biểu diễn có quyền nộp đơn yêu cầu cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền xem xét giải quyết.
Điều 21.- Nghĩa vụ của
tổ chức sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng
hình, đĩa hình, của tổ chức phát thanh, truyền
hình: 1. Các quy định tại các điều 776, 778 của Bộ luật
cũng được áp dụng đối với tổ chức sản xuất
sản phẩm ghi âm, ghi hình dưới dạng băng, đĩa
hoặc các công nghệ khác hiện có hoặc được phát
triển trong tương lại.
2. Trường hợp sử dụng tác phẩm chưa công bố
của người khác để sản xuất sản phẩm ghi âm,
ghi hình phải được sự đồng ý bằng văn bản
của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm. Việc
trả nhuận bút hoặc thù lao cho tác giả hoặc chủ
sở hữu tác phẩm phải thực hiện theo hợp đồng
thoả thuận đã ký kết với tác giả hoặc chủ
sở hữu tác phẩm.
3. Trường hợp sử dụng chương trình biểu diện
hoặc sản phẩm ghi âm, ghi hình để xây dựng chương
trình phát thanh, truyền hình thì tổ chức phát thanh,
truyền hình phải trả thù lao cho người biểu diễn
hoặc tổ chức đã sản xuất ra sản phẩm đó.
Điều 22.- Quyền của tổ
chức sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, bằng
hình, đĩa hình, của tổ chức phát thanh, truyền
hình: 1. Các quyền của tổ chức sản xuất băng âm thanh,
đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 777, Điều 779 của Bộ luật
bao gồm quyền cho phép hoặc không cho phép người
khác nhân bản sản phẩm của mình, quyền cho phép
hoặc không cho phép người khác phát hành sản phẩm
của mình.
2. Khi bị cá nhân, tổ chức xâm phạm quyền quy định
tại các Điều 777, 779 của Bộ luật thì tổ chức
sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình,
đĩa hình tổ chức phát thanh, truyền hình có quyền
nộp đơn yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
xem xét, giải quyết.
Điều 23.- Cá nhân, tổ
chức là tác giả, đồng tác giả hoặc chủ sở
hữu tác phẩm có quyền nộp đơn đăng ký bảo hộ
quyền tác giả, quyền sở hữu tác phẩm.
Điều 24.- Thủ tục đăng ký: 1. Tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu tác phẩm
muốn đăng ký quyền tác giả, quyền sở hữu tác
phẩm phải có đơn đăng ký yêu cầu bảo hộ theo
mẫu do Bộ Văn hoá - Thông tin ban hành.
2. Người nộp đơn phải xuất trình các tư liệu,
giấy tờ cần thiết chứng minh mình là tác giả,
đồng tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và nộp lệ
phí đăng ký theo quy định. Tác giả, đồng tác giả,
chủ sở hữu tác phẩm có thể uỷ quyền cho cá
nhân, pháp nhân khác thực hiện các thủ tục đăng
ký; giấy uỷ quyền phải có chứng nhận của Công
chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân
dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của tác giả,
đồng tác giả, chủ sở hữu tác phẩm.
3. Trong trường hợp người thừa kế đến đăng
ký phải xuất trình giấy tờ chứng minh mình là
người thừa kế hợp pháp.
Điều 25.- Cấp Giấy chứng
nhận bản quyền tác giả: 1. Cục Bản quyền tác giả xem xét, thẩm tra nội
dung các đơn đăng ký yêu cầu bảo hộ.
2. Sau khi xem xét và nếu thấy có đủ điều kiện,
giấy tờ hợp lệ theo quy định tại Điều 24 của
Nghị định này, Cục Bản quyền tác giả cấp Giấy
chứng nhận bản quyền tác giả cho tác giả, đồng
tác giả, chủ sở hữu tác phẩm.
3. Việc đăng ký quyền tác giả, quyền sở hữu
tác phẩm và việc cấp Giấy chứng nhận bản quyền
tác giả phải được ghi vào Sổ đăng ký bản quyền
do Cục Bản quyền tác giả lưu trữ.
Điều 26.- Thời hạn cấp
Giấy chứng nhận bản quyền tác giả: 1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tác giả, chủ
sở hữu tác phẩm nộp đơn yêu cầu đăng ký, Cục
Bản quyền tác giả có trách nhiệm xem xét và cấp
Giấy chứng nhận bản quyền tác giả.
2. Trường hợp Cục Bản quyền tác giả xét thầy
việc xin đăng ký bảo hộ không có đủ điều kiện,
giấy tờ hợp lệ theo quy định tại Điều 25 của
Nghị định này thì có quyền từ chối cấp Giấy
chứng nhận bản quyền tác giả và phải thông báo
bằng văn bản cho người nộp đơn.
3. Trong trường hợp người nộp đơn không đồng
ý với việc từ chối cấp Giấy chứng nhận bản
quyền tác giả của Cục Bản quyền tác giả thì
có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Văn hoá
- Thông tin.
4. Những người có quyền, lợi ích liên quan nếu
phát hiện thấy việc Cục Bản quyền tác giả cấp
Giấy chứng nhận bản quyền tác giả không đúng
đối tượng thì có quyền khiếu nại và yêu cầu
Cục Bản quyền tác giả phải làm thủ tục thu hồi.
Điều 27.- Tổ chức dịch
vụ bản quyền tác giả là doanh nghiệp đăng ký
hoạt động theo pháp luật và được Cục Bản quyền
tác giả cho phép làm dịch vụ tiến hành các thủ
tục đăng ký và nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền
tác giả, quyền sở hữu tác phẩm trên cơ sở được
tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu tác phẩm
uỷ quyền.
Quy chế cấp và thu hồi Giấy phép hoạt động nghiệp
vụ dịch vụ bản quyền tác giả do Bộ Văn hoá
- Thông tin quy định.
Điều 28.- Quyền tác giả
của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài do
Chính phủ quy định trong một văn bản khác.
Điều 29.- Quản lý Nhà
nước về bảo hộ quyền tác giả:
Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về bảo
hộ quyền tác giả trong phạm vi cả nước. Bộ Văn
hoá - Thông tin là cơ quan của Chính phủ, chịu trách
nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền tác
giả, có nhiệm vụ và quyền hạn: 1. Xây dựng các chủ trương, chính sách về bảo
hộ quyền tác giả.
2. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội ban hành
văn bản pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
3. Thực hiện hoặc phối hợp với các Bộ, ngành
có liên quan bảo hộ quyền tác giả đối với tác
phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
4. Thực hiện hoặc phối hợp với các Bộ, ngành
có liên quan kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu
nại, tố cáo, xử lý vi phạm quyền tác giả theo
thẩm quyền.
5. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền tác giả.
Điều 30.- Cục Bản quyền
tác giả có trách nhiệm giúp Bộ Văn hoá - Thông
tin thực hiện quản lý Nhà nước về bảo hộ quyền
tác giả, có chức năng, nhiệm vụ: 1. Soạn thảo dự án Luật, Pháp lệnh, Nghị định,
văn bản pháp quy khác về bảo hộ quyền tác giả.
2. Đăng ký bảo hộ quyền tác giả cho cá nhân, tổ
chức trong nước và nước ngoài; cấp và thu hồi
Giấy chứng nhận bản quyền tác giả, Giấy phép
hoạt động nghiệp vụ dịch vụ bản quyền tác
giả.
3. Hướng dẫn Sở Văn hoá - Thông tin trong việc thực
hiện quản lý Nhà nước về bảo hộ quyền tác
giả ở địa phương.
4. Tổ chức, thực hiện việc hợp tác với nước
ngoài, các tổ chức quốc tế về quyền tác giả.
5. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
quyền tác giả và thực hiện hoạt động thông tin
về bảo hộ quyền tác giả.
Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về
bảo hộ quyền tác giả cho cán bộ các cơ quan có
liên quan ở Trung ương và địa phương.
Điều 31.- Bộ Khoa học,
Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Văn
hoá - Thông tin hướng dẫn hoạt động bảo hộ quyền
tác giả thuộc lĩnh vực khoa học, kể cả phần
mềm máy tính, trong đó có hướng dẫn thủ tục
thẩm định tính xác thực của quyền tác giả, quyền
sở hữu tác phẩm đối với các công trình khoa học,
sách giáo khoa, giáo trình, phần mền máy tính trước
khi làm thủ tục đăng ký bảo hộ tại Cục Bản
quyền tác giả.
Điều 32.- Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách
nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật
bảo hộ quyền tác giả tại địa phương.
Sở Văn hoá - Thông tin có trách nhiệm giúp Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
thực hiện pháp luật bảo hộ quyền tác giả tại
địa phương.
Điều 33.- Việc giải quyết
tranh chấp, vi phạm quyền tác giả được thực hiện
theo thủ tục tố tụng hành chính, dân sự hoặc
hình sự.
Điều 34.- Chức năng của
Thanh tra chuyên ngành Văn hoá - Thông tin trong việc
xử lý các vụ tranh chấp vi phạm quyền tác giả: 1. Thanh tra chuyên ngành Văn hoá - Thông tin thuộc Sở
Văn hoá - Thông tin tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương hoặc thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ Văn hoá
- Thông tin có trách nhiệm xử lý, giải quyết các
vụ tranh chấp vi phạm quyền tác giả.
2. Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm khi bị cá nhân,
tổ chức xâm phạm quyền của mình đều có thể
yêu cầu thanh tra chuyên ngành Văn hoá - Thông tin xử
lý, giải quyết.
3. Thanh tra chuyên ngành Văn hoá - Thông tin có quyền
quyết định xử phạt hành chính theo thẩm quyền.
Điều 35.- Tác giả hoặc
chủ sở hữu tác phẩm có quyền yêu cầu được
bảo hộ khi các hành vi sau đây tiến hành mà không
được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở
hữu tác phẩm.
1. Công bố, phổ biến tác phẩm; biểu diễn tác
phẩm sân khấu; phát sóng bộ phim, băng hình; ghi
âm, ghi hình hoặc trực tiếp phát sóng từ nơi đang
biểu diễn, trừ trường hợp quy định tại điểm
h khoản 1 Điều 761 của Bộ luật.
2. Thêm bớt, sửa chữa nội dung tác phẩm.
3. Làm giả tác phẩm tạo hình để bán hoặc dùng
riêng.
4. Sao chép nội dung tác phẩm của người khác đưa
vào tác phẩm của mình.
5. Nhân bản, lắp ghép chương trình phát thanh, truyền
hình, băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng nhạc, đĩa
nhạc, băng hình, đĩa hình, bộ phim, phần mền máy
tính để kinh doanh.
6. Dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể tác phẩm.
Điều 36.- Thủ tục yêu
cầu bảo hộ: 1. Cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền tác giả
phải có đơn trình bầy sự việc và nộp cho thanh
tra chuyên ngành Văn hoá - Thông tin tỉnh, thành phố
hoặc thanh tra Bộ Văn hoá - Thông tin.
2. Kèm theo đơn là những chứng cứ cần thiết chứng
minh việc khiếu nại của mình là đúng sự thật.
3. Thanh tra chuyên ngành Văn hoá - Thông tin có trách
nhiệm giải quyết khiếu nại và trả lời cho đương
sự trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được
đơn.
Điều 37.- Bộ Văn hoá -
Thông tin hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
Điều 38.- Bộ Văn hoá -
Thông tin phối hợp với các cơ quan hữu quan hướng
dẫn quy định về bảo hộ tác phẩm kiến trúc.
Điều 39.- Nghị định này có hiệu lực từ
ngày ban hành.
Điều 40.- Các Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm
thi hành Nghị định này. |