Các văn bản pháp luật về Sở hữu Trí tuệ

 

BỘ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ
 VÀ MÔI TRƯỜNG

-----------------

Số: 825/2000/TT-BKHCNMT

CỘNG H̉A XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------------------------------

Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2000

 

THÔNG TƯ

Về hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3/1999
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

            Thi hành Điều 23 Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 6/3/1999 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (sau đây viết tắt là “Nghị định”), Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn cụ thể một số điểm để thi hành Nghị định.

 

I. ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN TẮC XỬ PHẠT,
ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN

             1. Đối tượng xử phạt

            Đối tượng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được quy định tại khoản 2 và 3 Điều 2 Nghị định và phải tuân theo quy định tạI Điều 5 Pháp lệnh Xử lư vi phạm hành chính ngày 06/7/1995 (sau đây gọi tắt là “Pháp lệnh”).

            1.1. Theo các quy định đó, mọi đối tượng hội đủ các điều kiện sau đây đều bị xử phạt theo Nghị định:

            - Cá nhân từ 16 tuổI trở lên hoặc tổ chức và các chủ thể khác;

            - Thực hiện một trong các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến sở hữu công nghiệp quy định tại Chương 2 Nghị định (bất kể việc thực hiện đó là cố ư hay vô ư) và hành vi đó không có yếu tố cấu thành tội phạm;        

            - Hành vi vi phạm hành chính nói trên được thực hiện tại lănh thổ Việt Nam;

            - Hành vi vi phạm hành chính nói trên được thực hiện trong thời hiệu quy định tại Điều 4 Nghị định.

            1.2. Theo các quy định trên, cá nhân từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp một cách cố ư tại địa điểm và trong thời gian nói trên cũng bị xử phạt theo Nghị định.

            1.3. Cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp tại Việt Nam cũng bị xử phạt theo Nghị định, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà cả Việt Nam và nước mà tổ chức, cá nhân đó mang quốc tịch đều tham gia có quy định khác. Trong trường hợp này, việc xử lư vi phạm hành chính được thực hiện theo Điều ước quốc tế nói trên.

            2. Nguyên tắc xử phạt

            Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp phải tuân theo các quy định và nguyên tắc xử phạt tại Điều 3 Pháp lệnh và tại Điều 3 Nghị định. Khi áp dụng các nguyên tắc đó cần lưu ư những vấn đề sau đây.        

            2.1. Nguyên tắc đúng thẩm quyền

            Chỉ những người có thẩm quyền quy định tại Chương 3 Nghị định mới được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp với h́nh thức và mức phạt trong phạm vi thẩm quyền quy định. Không được phép tách một vi phạm thành nhiều vi phạm nhỏ hoặc gộp nhiều vi phạm nhỏ thành một vi phạm lớn hơn nhằm mục đích thay đổI thẩm quyền xử phạt.

            2.2. Nguyên tắc đúng đối tượng

            Mọi đối tượng đă thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nêu tại điểm 1 Thông tư này đều bị xử phạt theo Nghị định. Những đối tượng không thuộc các trường hợp nêu tạI điểm đó đều không bị xử phạt theo Nghị định.

            Một đối tượng thực hiện nhiều hành vi vi phạm th́ ngườI đó bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. Nhiều đối tượng cùng thực hiện một hành vi vi phạm th́ mỗi đốI tượng đều bị xử phạt.

            2.3. Nguyên tắc đúng mức độ

            H́nh thức, mức độ xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp phải phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm. Tuy nhiên, khi xác định h́nh thức và mức xử phạt, cần phải xem xét thêm về nhân thân và những t́nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ để có quyết định phù hợp.

            2.4. Nguyên tắc kịp thời, triệt để

            Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền và nghĩa vụ phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Các phát hiện đó phải được thông báo cho những người có thẩm quyền xử phạt hành chính. Khi nhận được thông báo hoặc yêu cầu xử lư vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, người có thẩm quyền phải xúc tiến ngay các thủ tục cần thiết để bảo đảm đ́nh chỉ ngay việc vi phạm và khắc phục hậu quả.

            2.5. Nguyên tắc đúng thủ tục

            Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp phải được tiến hành theo đúng thủ tục quy định tại các Điều từ 45 đến 56 Pháp lệnh và các Điều từ 14 đến 20 Nghị định.

            3. Áp dụng các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp

            Khi thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, người có thẩm quyền xử phạt không những phải căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh và Nghị định mà c̣n phải căn cứ vào các quy định về nội dung, thủ tục bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nêu tại Chương 2 Phần VI Bộ luật dân sự năm 1995, cũng như các quy định khác liên quan nêu tại Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp (sau đây viết tắt là “Nghị định 63/CP”), Thông tư số 3055/TT-SHCN ngày 31/12/1996 và Thông tư này của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

 

II.  XÁC ĐỊNH CÁC HÀNH VI VI PHẠM LIÊN QUAN
ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

 

            4. Phạm vi hướng dẫn

            Các Điều 5, 6, 7, 8, 9 Chương 2 Nghị định quy định năm loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Các quy định đó đă đủ rơ ràng để thi hành và áp dụng. Sau đây chỉ hướng dẫn, giải thích thêm về việc xác định các loại vi phạm liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu công nghiệp cụ thể (Điều 5, Điều 6, Điều 9).

            5. Loại hành vi vi phạm liên quan đến quá tŕnh xác lập, thực hiện quyền sở hữu công nghiệp và làm thủ tục cấp phép (hoặc đăng kư) hoạt động dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp (Điều 5 Nghị định)

            Đặc điểm chung của loại hành vi vi phạm này là người vi phạm cố ư sử dụng các biện pháp không trung thực nhằm lợi dụng chế độ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp để trục lợI hoặc để che giấu các hành vi vi phạm pháp luật khác. Sau đây là một số thể hiện về một số hành vi thuộc loại này.

            5.1. Hành vi để lẫn tránh hoặc thực hiện các hành vi trong các lĩnh vực khác bị pháp luật cấm hoặc hạn chế (Điều 5.1.a). Những hành vi sau đây thuộc dạng vi phạm này: mượn cớ việc phải thanh toán lệ phí khi tiến hành đăng kư quyền sở hữu công nghiệp ở nước ngoài hoặc phải thanh toán tiền mua li-xăng của nước ngoài để chuyển ngân ra nước ngoài; hoặc tạo ra các cuộc thanh toán giả dưới danh nghĩa chuyển giao, chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp v.v.

            5.2. Hành vi tiến hành thủ tục xác lập quyền, thực hiện quyền sở hữu công nghiệp nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền, khống chế thị trường một cách bất hợp pháp, thủ tiêu đối tượng sở hữu công nghiệp, hạn chế hoặc thu hẹp phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của người khác, lợi dụng hoặc hạ thấp uy tín thương mại của cơ sở sản xuất kinh doanh khác (Điều 5.1.b). Những hành vi sau đây thuộc dạng vi phạm này:

            a. Lợi dụng việc đăng kư quyền sở hữu công nghiệp để khiếu nại, tố cáo một cách thiếu căn cứ nhằm cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của người khác.

            b. Mở rộng một cách thiếu căn cứ phạm vi bảo hộ khi tiến hành các thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp bằng cách cố ư không cung cấp các thông tin mà ḿnh biết hoặc có nghĩa vụ phải biết cho cơ quan có thẩm quyền dẫn tớI việc xác định không đúng về t́nh trạng đă biết liên quan đến đối tượng được bảo hộ, từ đó khống chế, cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của người khác.

            c. Mua quyền sở hữu công nghiệp (chẳng hạn mua li-xăng) nhằm mục đích thủ tiêu khả năng cạnh tranh của người khác để tiến tớI độc quyền khống chế thị trường.

            d. Tiến hành các thủ tục đăng kư quyền sở hữu công nghiệp không phải nhằm để sử dụng mà chỉ để ngăn chặn ngườI khác sản xuất, kinh doanh liên quan đến đối tượng được đăng kư…

            6. Loại hành vi vi phạm quy định về các chỉ dẫn liên quan đến sở hữu công nghiệp (Điều 6 Nghị định)

            Loại hành vi này vi phạm các quy định tại Điều 54 và Điều 66 Nghị định 63/CP và gây hậu quả ảnh hưởng đến lợi ích của ngườI tiêu dùng.

            6.1. Hành vi chỉ dẫn sai về chủ sở hữu công nghiệp (Điều 6.1.a)

            Điều 66 Nghị định 63/CP quy định chỉ có chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp (chủ sở hữu công nghiệp) và chỉ trong thời hạn bảo hộ mớI được nêu các chỉ dẫn rằng sản phẩm được bảo hộ hoặc thuộc độc quyền của ḿnh (kể cả chỉ dẫn dưới dạng kư hiệu) trên sản phẩm, khi quảng cáo hoặc khi giao dịch nhằm mục đích kinh doanh. Trường hợp không phải là chủ sở hữu công nghiệp mà ghi như vậy th́ việc ghi chỉ dẫn đó thuộc dạng hành vi vi phạm này.

            Để xác định hành vi có phải là hành vi vi phạm thuộc dạng này hay không, cần phải xác định chủ sở hữu công nghiệp theo hướng dẫn nêu tại điểm 7.2. Thông tư này. 

            6.2. Hành vi chỉ dẫn sai về việc sản phẩm, dịch vụ có yếu tố được bảo hộ (Điều 6.1.b)

            Các hành vi sau đây thuộc dạng hành vi vi phạm này:

            In trên hàng hóa, bao b́ hàng hóa hàng chữ “nhăn hiệu đă đăng kư” hoặc “nhăn hiệu đó đă được bảo hộ” hoặc “nhăn hiệu thuộc độc quyền của…”, kể cả việc in kư hiệu ® (là kư hiệu được dùng rộng răi nhằm để chỉ rằng nhăn hiệu đă được đăng kư); hoặc in trên sản phẩm các chỉ dẫn tương tự để nhằm nói rằng sản phẩm được bảo hộ là sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, kể cả việc in kư hiệu “P kèm theo các con số” (là kư hiệu được dùng rộng răi để chỉ dẫn rằng sản phẩm được cấp Patent -Bằng độc quyền sáng chế)… nhưng thực sự không phải là như vậy.

            Để xác định hành vi có phải là hành vi vi phạm dạng này hay không, cần phải xác định đối tượng bảo hộ theo hướng dẫn tại điểm 7.2. Thông tư này.  

            6.3. Hành vi chỉ dẫn sai về việc sản phẩm, dịch vụ được sản xuất, thực hiện theo li-xăng (Điều 6.1.d)

            Việc ghi trên sản phẩm hàng chữ “được sản xuất theo li-xăng của…” hoặc “được cấp li-xăng của…” hoặc những chữ có nghĩa tương tự như vậy, bất kể bằng tiếng Việt hay tiếng nước ngoài, trong khi sự thực không phải như vậy th́ bị coi là thực hiện hành vi vi phạm nêu trên.

            6.4. Hành vi không nêu chỉ dẫn về việc sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ theo li-xăng (Điều 6.2.a)

            Nếu sản phẩm được sản xuất theo li-xăng sở hữu công nghiệp (kể cả trường hợp được sản phẩm được sản xuất theo giấy phép sản xuất của người khác và được mang nhăn hiệu sử dụng theo li-xăng của ngườI cho phép sản xuất), hoặc nếu dịch vụ được thực hiện theo li-xăng sở hữu công nghiệp mà trên sản phẩm, phương tiện dịch vụ tương ứng không ghi chỉ dẫn về điều đó th́ sự việc không ghi chỉ dẫn như vậy bị coi là hành vi vi phạm Điều 66 Nghị định 63/CP và bị xếp vào dạng vi phạm này.

            6.5. Hành vi không ghi hoặc ghi không rơ ràng, đầy đủ cụm từ “sản xuất tạI Việt nam” đối vớI các trường hợp buộc phải ghi (Điều 6.2.b)

            Theo Điều 66 Nghị định 63/CP, nếu sản phẩm sản xuất tại Việt Nam theo li-xăng của nước ngoài hoặc nếu sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam mang nhăn hiệu gây nên sự hiểu sai lệch rằng đó là hàng hóa của nước ngoài hay có nguồn gốc nước ngoài th́ bắt buộc phải ghi đầy đủ mà không được viết tắt cụm từ “sản xuất tại Việt Nam”. Nếu không ghi chỉ dẫn như vậy th́ bị coi là hành vi vi phạm thuộc dạng này.

            7. Hành vi vi phạm quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 9 Nghị định)

            Các hành vi vi phạm được quy định tại Điều 9 Nghị định là các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa đang được bảo hộ. Để áp dụng quy định tại Điều này, người có thẩm quyền xử phạt phải xác định rơ t́nh trạng pháp lư liên quan đến đối tượng được bảo hộ, cụ thể là cần xác định rơ: ai là chủ sở hữu công nghiệp, đối tượng được bảo hộ là ǵ, phạm vi bảo hộ tới đâu, thời hạn bảo hộ đến khi nào và người nào là người được phép sử dụng đối tượng được bảo hộ mà không bị coi là người xâm phạm quyền được bảo hộ. Để xác định đúng các nội dung trên đây, cần phải nắm vững và tuân thủ các quy định tại Chương 4 và Chương 5 (các Điều từ Điều 33 đến Điều 54) Nghị định 63/CP. Sau đây là một số điểm giải thích, hướng dẫn thêm liên quan đến loại hành vi vi phạm này:

            7.1. Nguyên tắc tổng quát để xác định một hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

            Để khẳng định một hành vi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, cần phải có đầy đủ các căn cứ sau đây:

            - Hành vi nêu trên là việc thực hiện (tiến hành) một trong các hành vi sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa) nêu tại các điểm a), b), c), d), e), g), h), i), k) khoản 1) Điều 9 Nghị định;

            - Người thực hiện hành vi nêu trên không phải là chủ sở hữu công nghiệp (cách xác định chủ sở hữu công nghiệp được nêu tại điểm 7.2. Thông tư này); trường hợp đối tượng được sử dụng là sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc kiểu dáng công nghiệp th́ người thực hiện hành vi sử dụng nêu trên không những không phải là chủ sở hữu công nghiệp mà cũng không phải là người có quyền sử dụng trước sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp (người có quyền sử dụng trước được quy định tại Điều 50 Nghị định 63/CP);

            - Hành vi nêu trên được thực hiện trong thời hạn bảo hộ ghi trên Văn bằng bảo hộ cấp cho chủ sở hữu công nghiệp và được thực hiện tại Việt Nam.

            7.2. Cách xác định chủ sở hữu công nghiệp

            Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 1 Nghị định, “chủ sở hữu công nghiệp” có thể là một trong ba chủ thể sau đây đối với quyền sở hữu công nghiệp: chủ văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu đăng kư quốc tế nhăn hiệu hàng hóa và người được chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp. Việc xác định chủ sở hữu công nghiệp được tiến hành theo các căn cứ sau đây:

            a. “Chủ văn bằng bảo hộ” là tổ chức, cá nhân được cấp Văn bằng bảo hộ, cụ thể là tổ chức, cá nhân được ghi tên là “Chủ bằng” trong Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp hoặc được ghi tên là “Chủ Giấy chứng nhận” trong Giấy chứng nhận đăng kư nhăn hiệu hàng hóa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa, Giấy chứng nhận kiểu dáng công nghiệp (cấp theo Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989).

            b. “Chủ sở hữu đăng kư quốc tế nhăn hiệu hàng hóa” là tổ chức, cá nhân nước ngoài đă  đăng kư quốc tế nhăn hiệu hàng hóa theo Thỏa ước Madrid và đăng kư đó được chấp nhận tại Việt Nam; cụ thể là tổ chức, cá nhân được ghi tên chủ đăng kư trong công bố của Văn pḥng quốc tế Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giớI (WIPO) mà trong đó có chỉ định Việt Nam và có xác nhận của Cục Sở hữu công nghiệp rằng đăng kư đó được Việt Nam chấp nhận.

            c. “Người được chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp” là tổ chức, cá nhân được chuyển nhượng hợp pháp quyền sở hữu đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhăn hiệu hàng hóa; cụ thể là tổ chức, cá nhân được ghi tên là “Bên nhận” trong Giấy chứng nhận đăng kư hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp do Cục Sở hữu công nghiệp cấp.

            d. “Người được chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp” cũng c̣n là tổ chức, cá nhân được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng (li-xăng) sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhăn hiệu hàng hóa; cụ thể là tổ chức, cá nhân được ghi tên là “Bên nhận” trong Giấy chứng nhận đăng kư Hợp đồng li-xăng do Cục Sở hữu công nghiệp cấp (kể cả trường hợp li-xăng là li-xăng không tự nguyện).

            Các Văn bằng bảo hộ (Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, Giấy chứng nhận đăng kư nhăn hiệu hàng hóa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa, Giấy chứng nhận kiểu dáng công nghiệp) và các Giấy chứng nhận đăng kư hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp nói trên chỉ có giá trị làm căn cứ xác định chủ sở hữu công nghiệp cũng như xác định phạm vi, đối tượng   quyền sở hữu công nghiệp nhằm áp dụng Nghị định khi các Giấy tờ đó c̣n đang trong thời hạn hiệu lực.

            7.3. Cách xác định yếu tố vi phạm

            Yếu tố vi phạm (khoản 4 Điều 1 Nghị định) là thể hiện cụ thể kết quả của các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa và là căn cứ quan trọng nhất để khẳng định hành vi đó.

            a. Yếu tố vi phạm đối với sáng chế/giải pháp hữu ích có thể thuộc một trong ba dạng sau đây:

            - Sản phẩm hoặc bộ phận (một phần) của sản phẩm đồng nhất (trùng) với sản phẩm hoặc bộ phận của sản phẩm đang được bảo hộ là sáng chế hoặc giải pháp hữu ích;

            - Quy tŕnh đồng nhất (trùng) với quy tŕnh đang được bảo hộ là sáng chế hoặc giải pháp hữu ích;

            - Sản phẩm hoặc bộ phận của sản phẩm được sản xuất theo quy tŕnh đồng nhất với quy tŕnh đang được bảo hộ là sáng chế hoặc giải pháp hữu ích.

            Để khẳng định sự đồng nhất (trùng) giữa sản phẩm vi phạm với sản phẩm được bảo hộ,  giữa quy tŕnh vi phạm với quy tŕnh được bảo hộ cần phải so sánh tất cả các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm/quy tŕnh đó với sản phẩm/quy tŕnh được bảo hộ và chỉ trong trường hợp tất cả các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm/quy tŕnh vi phạm đều có mặt trong tập hợp các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm/quy tŕnh được bảo hộ th́ mới được kết luận như trên. Khi tiến hành việc so sánh cần phải căn cứ vào Bản mô tả sáng chế, Bản mô tả giải pháp hữu ích và Yêu cầu bảo hộ sáng chế, Yêu cầu bảo hộ giải pháp hữu ích đính kèm theo Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, trong đó đă xác định các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm/quy tŕnh được bảo hộ.

            b. Yếu tố vi phạm đối với kiểu dáng công nghiệp là sản phẩm mà h́nh dáng bên ngoài của nó hoặc h́nh dáng bên ngoài một bộ phận trùng với một kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ hoặc trùng với thành phần tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ.

             Để khẳng định một sản phẩm có phải là yếu tố vi phạm đối với kiểu dáng công nghiệp hay không cần phải so sánh tất cả các đặc điểm tạo dáng (đường nét, h́nh khối, màu sắc) của sản phẩm, bộ phận sản phẩm với các đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp được xác định tại Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp (hoặc Giấy chứng nhận kiểu dáng công nghiệp được cấp theo Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989). Chỉ khi nào tất cả các đặc điểm của toàn bộ sản phẩm hoặc của một phần sản phẩm đều trùng với các đặc điểm tạo dáng nêu trong Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp th́ mới khẳng định sản phẩm đó là yếu tố vi phạm đối với kiểu dáng công nghiệp.

            c. Yếu tố vi phạm đối với nhăn hiệu hàng hóa và tên gọi xuất xứ hàng hóa có thể thuộc một trong hai dạng:

            - Dấu hiệu đóng vai tṛ nhăn hiệu hàng hóa, hoặc

            - Chỉ dẫn gây liên tưởng đến nhăn hiệu hàng hóa hoặc nguồn gốc hàng hóa.

            Yếu tố vi phạm dạng dấu hiệu là mọi dấu hiệu có thể dùng làm nhăn hiệu hàng hóa (chữ, chữ số, h́nh ảnh, biểu tượng, kư hiệu) được gắn lên hàng hóa, bao b́ hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, quảng cáo trùng với hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa được bảo hộ.

             Yếu tố vi phạm dạng chỉ dẫn là mọi thông tin tŕnh bày trên hàng hóa, bao b́ hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, vật quảng cáo (lời dẫn, lời chú, kư hiệu) làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc, mối liên hệ của hàng hóa/dịch vụ với hàng hóa/dịch vụ có nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa được bảo hộ.

            Để khẳng định một dấu hiệu hoặc một chỉ dẫn có phải là yếu tố vi phạm đối với nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa hay không, cần phải so sánh dấu hiệu, chỉ dẫn đó đối với nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa được bảo hộ và so sánh sản phẩm, dịch vụ mang các dấu hiệu, chỉ dẫn đó với sản phẩm, dịch vụ nằm trong Danh mục sản phẩm, dịch vụ tŕnh bày trong Giấy chứng nhận đăng kư nhăn hiệu hàng hóa hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa tương ứng. Khi so sánh cần lưu ư các điểm sau:

            - Một dấu hiệu bị coi là trùng với một nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa được bảo hộ nếu cả hai điều kiện sau đây đều đáp ứng:

            Điều kiện thứ nhất: Dấu hiệu đó có cấu tạo, cách tŕnh bày, màu sắc, cách phát âm (đối với dấu hiệu là chữ), ư nghĩa hoàn toàn trùng với cấu tạo, cách tŕnh bày, màu sắc, cách phát âm, ư nghĩa của nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa được bảo hộ; và

             Điều kiện thứ hai: hàng hóa/dịch vụ có mang dấu hiệu đó nằm trong Danh mục các sản phẩm, dịch vụ đă đăng kư trong Giấy chứng nhận đăng kư nhăn hiệu hàng hóa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa.

            - Một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ đang được bảo hộ nếu xảy ra một trong hai t́nh huống sau đây:

            T́nh huống thứ nhất (trùng dấu hiệu và tương tự sản phẩm):

            Dấu hiệu đó có cấu tạo, cách tŕnh bày, cách phát âm (đối với dấu hiệu chữ), màu sắc, ư nghĩa hoàn toàn trùng với cấu tạo, cách tŕnh bày, cách phát âm, màu sắc, ư nghĩa của nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa đang được bảo hộ; và

            Hàng hóa/dịch vụ có mang dấu hiệu đó tương tự hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng với hàng hóa, dịch vụ đă được đăng kư trong Giấy chứng nhận đăng kư nhăn hiệu hàng hóa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa tương ứng;

            T́nh huống thứ hai ( tương tự dấu hiệu, trùng sản phẩm):

            Dấu hiệu có một số đặc điểm về cấu tạo, cách tŕnh bày, cách phát âm (đối với dấu hiệu chữ), màu sắc, ư nghĩa hoàn toàn trùng hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt được với nhăn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa đang được bảo hộ; và

            Hàng hóa/dịch vụ có mang dấu hiệu trên nằm trong Danh mục các sản phẩm, dịch vụ đă đăng kư trong Giấy chứng nhận đăng kư nhăn hiệu hàng hóa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa.

            8. Một số lưu ư đặc biệt khi áp dụng Điều 9 Nghị định

            Khi xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và khi xử phạt theo Điều 9 Nghị định, người xử phạt cần đặc biệt lưu ư một số vấn đề sau đây:

            8.1. Các trường hợp ngoại lệ không bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

            Theo Điều 803 Bộ Luật dân sự 1995 và khoản 3 Điều 53 Nghị định 63/CP, những hành vi sau đây không bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và không bị xử lư theo Nghị định:

            a. Sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ không nhằm mục đích kinh doanh (cụ thể là việc sử dụng đó không phải là hoạt động thương mại, chẳng hạn, sử dụng để thí nghiệm, nhằm nghiên cứu khoa học, giảng dạy, nhằm phục vụ mục đích cộng đồng phi lợi nhuận, nhằm phục vụ nhu cầu riêng của cá nhân…);

            b. Sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp trên các phương tiện quá cảnh hoặc tạm thời nằm tại Việt Nam chỉ nhằm mục đích duy tŕ hoạt động của phương tiện đó;

            c. Sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp do người có quyền sử dụng trước đưa ra thị trường (người có quyền sử dụng trước được quy định tại Điều 50/NĐ 63/CP);

            d. Sử dụng hoặc tiến hành các hoạt động có tính chất thương mại (nhập khẩu, bán, tàng trữ để bán, rao bán, quảng cáo để bán) sản phẩm, hàng hóa mà sản phẩm, hàng hóa đó đă được chủ sở hữu công nghiệp đưa ra thị trường (kể cả thị trường nước ngoài).

            Trường hợp ngoại lệ thứ tư rất thường gặp trong quá tŕnh xử lư các tranh chấp, khiếu nại, vi phạm về sở hữu công nghiệp. Sau đây là một số t́nh huống thuộc trường hợp này.

            - Hoạt động thương mại với các sản phẩm, hàng hóa có chứa yếu tố được bảo hộ sở hữu công nghiệp do người khác cung cấp (phân phối, bán) và người cung cấp chính là chủ sở hữu công nghiệp (người có Văn bằng bảo hộ, người được cấp li-xăng) th́ các hoạt động thương mại đó không bị coi là xâm phạm, bất kể việc cung cấp hàng hóa, sản phẩm được thực hiện tại Việt Nam hay ở nước ngoài.

            - Nhập khẩu song song: việc nhập khẩu hàng hóa, sản phẩm chứa yếu tố được bảo hộ sở hữu công nghiệp từ nguồn không phải do chính chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp cung cấp mà do người được cấp li-xăng, người đă được phân phối hoặc do hăng con, chi nhánh… cung cấp th́ đều không bị coi là xâm phạm.

            Nếu người bị tố cáo vi phạm xét thấy hành vi mà ḿnh đă thực hiện thuộc vào trường hợp ngoại lệ th́ người đó có quyền và có nghĩa vụ chứng minh rằng hành vi đó thuộc các  trường hợp ngoại lệ, nếu không chứng minh được điều đó th́ không được hưởng quyền ngoại lệ nói trên.

            8.2. Ảnh hưởng của việc thay đổi hiệu lực Văn bằng bảo hộ

            Hiệu lực của một Văn bằng bảo hộ có thể bị thay đổi: phạm vi bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp có thể bị thu hẹp hoặc bị đ́nh chỉ hoặc bị hủy bỏ. Sự thay đổi đó có ảnh hưởng đến việc xác định hành vi vi phạm nêu tại Điều 9 Nghị định. Để việc xử lư vi phạm được công minh, thỏa đáng, trong trường hợp có thông báo của cơ quan quản lư sở hữu công nghiệp có thẩm quyền về khả năng hoặc quyết định thay đổi hiệu lực Văn bằng bảo hộ, người có thẩm quyền xử phạt phảI nghiên cứu và có quyết định phù hợp với phạm vi hiệu lực mới.

 

III. ÁP DỤNG CÁC H̀NH THỨC PHẠT, MỨC PHẠT, BIỆN PHÁP XỬ LƯ

           

9. Phạt cảnh cáo

            H́nh thức phạt cảnh cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định chỉ áp dụng đối với các trường hợp mà quy định có h́nh thức phạt cảnh cáo theo Điều, khoản tương ứng của Nghị định và được áp dụng đối với các trường hợp vi phạm có các t́nh tiết sau đây:

            - Vi phạm lần đầu và có quy mô nhỏ, không gây thiệt hại đáng kể cho chủ sở hữu công nghiệp và người tiêu dùng;

            - Do tŕnh độ lạc hậu, thiếu hiểu biết về quy định pháp luật sở hữu công nghiệp và không gây thiệt hại đáng kể cho chủ sở hữu công nghiệp và người tiêu dùng;

            - Do vi phạm của người khác gây ra mà người vi phạm không biết và không có lư do hợp lư để biết, kể cả trường hợp bị lừa dối trong quá tŕnh thỏa thuận kư kết, thực hiện hợp đồng trong sản xuất, kinh doanh và không có quy định buộc phải biết về vấn đề sở hữu công nghiệp liên quan.

            10. Phạt tiền

            Khi xét thấy hành vi vi phạm không thuộc trường hợp áp dụng h́nh thức phạt cảnh cáo th́ áp dụng h́nh thức phạt tiền. Mức phạt tiền được áp dụng như sau:

            10.1. Trường hợp vi phạm không có t́nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ th́ áp dụng mức phạt ở mức trung b́nh của khung phạt tiền;

            10.2. Trường hợp có một trong các t́nh tiết giảm nhẹ sau đây th́ áp dụng mức phạt dưới mức trung b́nh đến mức tối thiểu của khung phạt

            - Do tŕnh độ lạc hậu, thiếu hiểu biết về quy định pháp luật sở hữu công nghiệp;

            - Do vi phạm của người khác gây ra mà người vi phạm không biết và không có lư do hợp lư để biết, nhưng có quy định pháp luật buộc người vi phạm phải biết về vấn đề sở hữu công nghiệp liên quan (ví dụ trường hợp có quy định buộc bên nhận gia công, đặt hàng sản xuất hàng xuất khẩu phải bảo đảm tính hợp pháp của nhăn hiệu hàng hóa được sử dụng cho sản phẩm hoặc phải yêu cầu bên thuê gia công, đặt hàng có văn bản cam kết chịu trách nhiệm về việc sử dụng nhăn hiệu hàng hóa cho sản phẩm nhưng bên nhận gia công, đặt hàng đă không tuân thủ các quy định đó);

            - Người vi phạm đă tự giác chấm dứt hành vi vi phạm và có biện pháp ngăn nhặn, giảm bớt tác hại như ngừng sản xuất, ngừng bán hàng vi phạm khi có yêu cầu của chủ sở hữu công nghiệp hoặc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

            - Người vi phạm đă chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu của chủ sở hữu công nghiệp,  cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, tự nguyện khắc phục hậu quả như thu hồi hàng vi phạm, thông báo cải chính, xin lỗi, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu công nghiệp;

            10.3. Trường hợp có một trong các t́nh tiết tăng nặng sau đây th́ áp dụng mức phạt trên mức trung b́nh đến mức tối đa của khung phạt tiền:

            - Vi phạm có tổ chức;

            - Vi phạm nhiều lần;

            - Lừa dối, lợi dụng sự thiếu hiểu biết, sự lệ thuộc về các vấn đề kinh tế xă hội của ngườI khác để xúi giục, xui khiến, ép buộc người khác vi phạm;

            - Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, điều kiện kinh tế, xă hội đặc biệt để vi phạm;

            - Vi phạm trong thời gian đang chấp hành h́nh phạt của bản án h́nh sự hoặc đang chấp hành quyết định xử lư vi phạm hành chính về hành vi tội phạm hoặc hành vi vi phạm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;

            - Sau khi vi phạm đă có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm.

            Việc xác định mức phạt tiền trong khung phạt tiền tăng nặng quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định áp dụng các nguyên tắc tương tự như xác định mức phạt trong khung phạt tiền thông thường.

            11. Tước quyền sử dụng giấy phép:

            11.1. H́nh thức tước quyền sử dụng giấy phép là h́nh thức phạt bổ sung không áp dụng độc lập chỉ được áp dụng kèm theo các h́nh thức phạt chính (cảnh cáo hoặc phạt tiền) khi người có thẩm quyền xác định có đủ căn cứ và điều kiện để áp dụng sau đây:

            - Có quy định cho phép áp dụng h́nh thức tước quyền sử dụng giấy phép đối với hành vi vi phạm liên quan tại các Điều, khoản, điểm cụ thể trong các Điều từ Điều 5 đến Điều 9 Nghị định; và

            - Các dữ kiện thực tế của vụ vi phạm thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định. Các dữ kiện đó phải được ghi đầy đủ trong biên bản vi phạm.

            11.2. Điều kiện để xét áp dụng h́nh thức tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc không có thời hạn phải tuân theo quy định tại các khoản 2 và 3 Điều 16 Nghị định. Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép áp dụng phải tương ứng với tính chất, mức độ vi phạm của hành vi vi phạm cụ thể và nằm trong khoảng thời hạn cho phép áp dụng đối với hành vi đó theo quy định tại các Điều, khoản điểm tương ứng trong các Điều từ Điều 5 đến Điều 9 Nghị định;

            11.3. Thẩm quyền tước từng loại giấy phép phải tuân theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 Nghị định. Giấy phép kinh doanh quy định trong Nghị định có thể là Giấy phép kinh doanh, Giấy phép đầu tư…tùy từng trường hợp cụ thể theo quy định pháp luật hiện hành. Giấy phép hoạt động dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp tùy theo trường hợp có thể là Giấy chứng nhận Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, Thẻ Người đại diện sở hữu công nghiệp theo quy định tại Nghị định 63/CP. Đối với loại giấy phép mà người có thẩm quyền xử phạt không có thẩm quyền tước quyền sử dụng (ví dụ Giấy phép đầu tư do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp) th́ người có thẩm quyền xử phạt làm văn bản kiến nghị kèm theo hồ sơ vụ việc đề nghị cơ quan đă cấp giấy phép đó xử lư.

            12. Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm

            12.1. H́nh thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm chỉ được áp dụng kèm theo các h́nh thức phạt chính khi người có thẩm quyền xác định có đủ căn cứ và điều kiện để áp dụng, cụ thể là:

            - Có quy định cho phép áp dụng h́nh thức phạt tịch thu đối với hành vi vi phạm liên quan tại Điều, khoản, điểm cụ thể trong các Điều từ Điều 5 đến Điều 9 Nghị định và các dữ kiện thực tế của vụ vi phạm thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định. Các dữ kiện đó phải được ghi đ